Thursday, September 23, 2021

(Tóm tắt sách) Hợp nhất linh hồn (phần 3)



12) Những tổ chức của linh hồn

12.1) Sự phân chia linh hồn

Vào lúc bắt đầu, chỉ có Thượng Đế/Nữ Thượng Đế/Tất Cả Là Như Vậy, toàn bộ của Sự Sáng Tạo. Đấng Tạo Hóa khao khát trải nghiệm chính mình như những phần cá thể, và như vậy Đấng Tạo Hóa phân chia bản thân mình thành nhiều linh hồn và các dạng sống khác. Những phần này đã là các dấu vết toàn ảnh của Đấng Tạo Hóa nguyên thủy. Hay các linh hồn này không bị phân mảnh, mà là hợp nhất một cách hoàn toàn đang phóng ra từ Thương Đế Cha.

Thượng Đế Mẹ/Cha tự phân chia bản thân ngài thành 12 phần. 12 phần này lại phân chia bản thân các ngài thành 12 phần thêm nữa, tạo nên tổng số 144 phần. 144 phần này sau đó lại phân chia bản thân ra 12 phần thêm nữa, tạo nên tổng số 1728 phần. Mỗi một người là một sinh mệnh có chủ quyền, là một phần của một nhóm 12 linh hồn đã được sinh ra từ một linh hồn cha mẹ, được gọi là một "linh hồn tối cao". Điều đó có nghĩa là có 12 linh hồn tất cả đều có cùng một linh hồn tối cao, người được phóng ra từ cùng một sinh mệnh cha mẹ. Mỗi lần phân chia, các linh hồn mới được sinh ra sẽ hạ xuống một tầng thứ so với linh hồn cha mẹ. Điều này được hiểu như là sự phân chia theo phương dọc. Bên cạnh sự phân chia có sự hạ xuống tầng thứ này, còn có sự phân chia theo phương ngang. Tức là, một linh hồn mật độ 7 có thể phân chia thành nhiều linh hồn cũng ở mật độ 7. Nếu một linh hồn đã không phân chia giữa các lần tái sinh, có thể nói rằng linh hồn đó là một sự tái sinh trực tiếp của đời sống trước đó. Nếu đã có một sự phân chia, có thể nói rằng sinh mệnh từ một đời sống trước đó nằm trong dòng dõi trực tiếp của mình. Các linh hồn phân chia và phóng ra từ một linh hồn tối cao là những sinh mệnh toàn bộ, đầy đủ, có chủ quyền, đã được tạo ra như những toàn ảnh của Đấng Tạo Hóa. Chỉ bởi vì họ được sinh ra từ một sinh mệnh thứ bậc cao không làm cho họ trở thành một tạo vật kém hơn của Thượng Đế so với những sinh mệnh đầu tiên đã được phóng ra từ Thượng Đế Cha hàng tỷ năm trước.

Các linh hồn phóng ra từ linh hồn tối cao, và các linh hồn tối cao phóng ra từ tổng hồn, và các tổng hồn phóng ra từ Cái Tôi Christ hay Cái Tôi Phật, và các Cái Tôi Christ hay các Cái Tôi Phật phóng ra từ Cái Tôi Thượng Đế Cá Thể, và các Cái Tôi Thượng Đế Cá Thể phóng ra từ Cái Tôi Thượng Đế Vũ Trụ, là các thành viên của một dòng dõi linh hồn trực tiếp. Các linh hồn phóng ra từ linh hồn tối cao được xem là các thành viên của cùng một gia đình hồn. 12 linh hồn này được phóng ra ở cùng một thời điểm từ linh hồn tối cao được xem là các thành viên gia đình hồn nguyên thủy. Các linh hồn phóng ra từ cùng một tổng hồn, nhưng từ các linh hồn tối cao khác nhau, được xem là các thành viên gia đình hồn thứ cấp. Thông thường có 144 thành viên gia đình hồn thứ cấp. Các linh hồn phóng ra từ cùng một Cái Tôi Christ hay một Cái Tôi Phật, nhưng từ các tổng hồn khác nhau, được xem là các thành viên gia đình hồn mở rộng. Thông thường, có 1728 thành viên gia đình hồn mở rộng.

12.2) Vì sao có sự phân chia linh hồn?

Nếu sự phân chia là theo phương dọc, có nghĩa là bên trong một dòng dõi linh hồn trực tiếp, thì sự phân chia xảy ra khi linh hồn tối cao, trong sự kết nối với Thượng Đế Cha, khao khát mở rộng bản thân nó đi xa hơn vào vũ trụ. Bởi vì đây là một vũ trụ tự do ý chí, không có thời gian định trước cho điều này xảy ra. Nó có thể xảy ra mỗi triệu năm Trái Đất một lần, hoặc mười triệu năm một lần, hoặc trăm triệu năm một lần.

- Nếu sự phân chia là theo phương ngang, có nghĩa là phân chia 12 linh hồn được sinh ra từ cùng một linh hồn tối cao nhiều lần, thì quá trình này sẽ xuất hiện khi 12 linh hồn mật độ 7 ban đầu đã đạt tới một tầng thứ tư tưởng mật độ 8. Những linh hồn này được trao cho lựa chọn hoặc là giữ như các thực thể mật độ 8 đơn lẻ, hoặc là phân chia bản thân vào 12 linh hồn mới. 

12.3) Sự khác biệt giữa sự phân chia và phân mảnh linh hồn

Sự phân mảnh chỉ liên quan đến các linh hồn cá thể đã sinh ra từ các linh hồn tối cao. Các mảnh hồn, được định nghĩa là, các linh hồn không toàn bộ, không đầy đủ và không có chủ quyền. Họ là các phần nhỏ của một linh hồn cá thể đã "vỡ ra" từ phần cha mẹ của linh hồn vì các lý do khác nhau. Nếu lý do phân mảnh là để phần hồn cha mẹ có thể giữ lại trong các vương quốc cao hơn trong khi đó những mảnh hồn có thể đi ra ngoài và khám phá các vương quốc thấp hơn, thì điều đó được gọi là sự phân mảnh tự nguyện. Một mảnh hồn nhập vào một dạng con người để trải nghiệm Trái Đất hoặc một hành tinh mật độ thấp khác được gọi là một mảnh hồn nguyên thủy.

Nếu các mảnh hồn bị tách ra từ phần cha mẹ của linh hồn thông qua sự chấn động, những mối quan hệ rất mật thiết, bạo lực, sự dính mắc tình cảm trong gia đình, trong cái chết của thân thể vật lý, hoặc từ một số động lực dựa trên bản ngã khác, thì các mảnh có thể đi qua thời gian, không gian và các chiều kích khác, phụ thuộc vào kích cỡ và ma trận năng lượng của mỗi mảnh hồn và mục tiêu của sự phân mảnh. Họ có thể tự gắn kết bản thân mình với các linh hồn cha mẹ khác, hay thậm chí với các mảnh hồn khác thuộc về các linh hồn khác. 

Không có mối quan hệ trực tiếp giữa sự phân chia linh hồn và sự phân mảnh linh hồn. Mỗi một thứ không có xu hướng gây nên thứ kia. Trong khi các sự phân chia linh hồn là những sự miêu tả hoàn toàn giống với Thượng Đế khi nó phân chia qua các tầng thứ, các mảnh hồn chỉ giữ lại một số đặc điểm tương đồng, trong khi thiếu mất những đặc điểm khác.

Một cách lý thuyết, các mảnh hồn biết truy cập vào tư tưởng của các mảnh hồn khác thuộc về cùng một phần hồn cha mẹ. Điều đó có nghĩa là một người có thể qua lại giữa các khía cạnh khác nhau của cái tôi, hay trong một chiều hướng, thay đổi các nhân tính. Cái thực sự xuất hiện là bản ngã/nhân tính đang thay đổi nhân dạng của nó từ một mảnh của linh hồn sang một phần khác.

- Bản ngã/nhân tính là một cấu trúc ảo và không thực sự tồn tại trong ý nghĩa tới hạn. Tuy nhiên, bản ngã có thể đồng hóa với mảnh hồn nguyên thủy được nhúng trong thân xác vật lý, hoặc nó có thể đồng hóa với các mảnh hồn thứ cấp khác. Trong một sinh mệnh con người gọi là "bình thường", bản ngã đồng hóa với mảnh hồn nguyên thủy đang sống trong thân thể trên Trái Đất. Những linh hồn có khả năng đồng nhất các mảnh hồn của họ vào mọi lúc, trong bất kỳ chiều dài thời gian nào. Những trải nghiệm giác ngộ tạm thời xuất hiện khi những mảnh hồn nào đó hợp nhất với phần hồn cha mẹ, hay khi những mảnh hồn nguyên thủy và thứ cấp trở nên yên lặng đủ để cho phép bản ngã/nhân tính đồng hóa với phần cha mẹ của linh hồn, hay khi bản ngã/nhân tính thu nhỏ bản thân nó đủ để cho phép phần cha mẹ của linh hồn đi vào thân thể vật lý một cách đầy đủ hơn.

- Một linh hồn hoàn toàn hợp nhất sẽ có một phần cha mẹ thẳng hàng trực tiếp với mảnh hồn nguyên thủy trên Trái Đất. Bản ngã/nhân tính sẽ là thuộc cấp của phần hồn cha mẹ và mảnh hồn nguyên thủy. Hãy nghĩ về những con búp bê Nga được lồng vào nhau. Con búp bê nhỏ nhất giống như bản ngã, con búp bê bao bên ngoài đại diện cho mảnh hồn nguyên thủy, và con búp bê bên ngoài cả hai con kia biểu hiện cho phần cha mẹ của linh hồn. Cũng có một con búp bê lớn hơn bao bên ngoài cả 3 con, đại diện cho linh hồn tối cao, và một con lớn hơn nữa đại diện cho tổng hồn, vv... 

12.4) Các linh hồn tối cao

Các linh hồn tối cao cư trú trong mật độ 8 của Sự Sáng Tạo, một tầng thứ bên trên các linh hồn cá thể.  Từ một nhận thức tuyến tính, có thể nói rằng họ đã tách ra từ Thượng Đế Cha thông qua các tầng thứ 12, 11, 10, 9, 8 trước khi trải nghiệm bản thân mình như là các sinh mệnh tầng thứ 7. Tuy nhiên, từ một quan điểm phi tuyến, họ đã sinh ra như các sinh mệnh tầng thứ 7 và đồng thời được phân chia từ các tầng thứ cao hơn theo cách thức đã được miêu tả trước đây.

Các linh hồn cá thể mật độ 7 đã hoàn thành hành trình của họ vào các thế giới thấp hơn được tự do tiến hóa vượt lên trên tầng thứ 7 vào tầng thứ 8, vương quốc của linh hồn tối cao. Họ sẽ trải nghiệm một cảm giác của sự hợp nhất trở lại linh hồn tối cao, nhưng trong thực tế họ đã trở thành các linh hồn tối cao của chính họ và giờ đây có khả năng sinh ra thêm nữa các nhóm linh hồn cá thể. Khi những linh hồn tối cao này tiến lên qua các nhóm phức hợp hồn của các chiều kích cao hơn, các khả năng của họ như những đấng tạo hóa trở nên càng ngày càng khổng lồ và rộng lớn. Khi họ đạt đến tầng thứ 12, họ được gọi là các "Thượng Đế Sáng Tạo" và có khả năng tạo ra không chỉ các Cái Tôi Thượng Đế cá thể tầng thứ 11, mà còn sinh ra toàn bộ các vũ trụ, mỗi một vũ trụ với hàng tỷ dải thiên hà. Hiện tại có trên 100.000 Thượng Đế Sáng Tạo đã tạo ra các vũ trụ mới. Một số chúng tương tự với vũ trụ này, và một số thì khác biệt vô cùng.

12.5) Các nhóm phức hợp hồn

- Tính cá thể chỉ xuất hiện từ mật độ tầng thứ 7 trở xuống. Từ mật độ tầng thứ 7 trở lên, xảy ra một quá trình rất khác của sự tiến hóa - đó là sự tiến hóa của các "phức hợp hồn".

- Tâm trí của con người ở mật độ tầng thứ 3,4 tư duy về thực tại ở ba tầng thứ là: sự cuốn theo, tính cá thể và sự thống nhất.

- Ở tầng thứ "sự cuốn theo", con người đi theo những niềm tin nào đó, những hệ thống nào đó, những định kiến nào đó, và những lối sống nào đó. Khi một ai đó khác với bình thường, họ bị xem là khó hiểu, là lập dị hay thậm chí điên rồ. Điểm thuận lợi của sự cuốn theo là một số lượng lớn con người dễ dàng bị kiểm soát và định hướng, cái đôi lúc có lợi.

- Ở tầng thứ "tính cá thể", có nghĩa là làm bất cứ điều gì và vào bất kỳ lúc nào mà con người thích. Trong thực tế, đây đã là định nghĩa không sáng suốt của tự do ý chí. Con người có xu hướng bị kẹt trong tầng thứ cá thể bởi vì họ sợ rằng nếu họ đi vào sự thống nhất (tầng thứ tiếp theo), họ sẽ mất đi cảm giác của họ về sự tự do và sự đa dạng. Họ xem sự thống nhất là sự giống nhau, hơn là một sự tự do lớn hơn. Về bản chất, họ đang lẫn lộn giữa tính thống nhất và sự cuốn theo.

- Ở tầng thứ "tính thống nhất", có nghĩa là những linh hồn đồng nhất đang cùng làm những việc trong cùng một cách, họ là bất kỳ một cái gì đó chứ không phải là những người cuốn theo. Họ chỉ đơn giản lựa chọn làm việc cùng với nhau để đạt được các mục tiêu và các viễn cảnh mà rất khó đạt được bởi một cá nhân. 

- Vượt ra ba tầng thứ trên của tâm trí con người, chính là tầng thứ "sự hợp nhất" hay tầng thứ "phức hợp hồn". Bên trong một nhóm phức hợp hồn, có sự thống nhất, sự đa dạng và tính cá thể. Mỗi một thành viên của nhóm là một thực thể có tự do ý chí, có chủ quyền. Tuy nhiên, một nhóm như vậy đã lựa chọn đặt các tâm trí và các trái tim của họ cùng với nhau trong một cách hợp lực vượt trên cả tính thống nhất đã được trải nghiệm trên Trái Đất. Nó cứ như thể là nhóm chỉ có một tâm trí và một trái tim, cho dù mỗi thành viên có quyền tự trị và tự do ý chí một cách đầy đủ.

Là một phần của một nhóm phức hợp hồn, một người phải có khả năng ngoại cảm và trực nhận các nhu cầu của nhóm theo một cách sâu hơn nhiều việc đơn giản thấy trước các nhu cầu của những người khác, hay thậm chí có tình thương cho những người khác. Trong khi tình yêu và tình thương là phần tự động của các nhóm phức hợp hồn, chúng giống với các khối cấu trúc cơ bản.

Khi một người tăng trưởng và tiến hóa và trở về với bản chất thực sự trong mật độ 7, người đó sẽ bắt đầu trải nghiệm vẻ đẹp và sự kỳ diệu của các nhóm phức hợp hồn. Mỗi người đều đã có sẵn một nhóm được thiết lập một cách vững chắc và đó là gia đình hồn của chính người đó. Đôi lúc, khi chìm sâu vào thiền định, người này có thể nhập vào họ và cảm thấy một cảm giác sâu sắc của gia đình, về sự hợp nhất, với mỗi một thành viên.

12.6) Linh hồn sinh đôi

- Khi linh hồn tối cao phân chia, sẽ tiến hành phân chia thành 12 linh hồn tức 6 cặp linh hồn. Do đó, mỗi linh hồn sẽ có một linh hồn sinh đôi của mình. Linh hồn này thường ở trên tầng thứ mật độ cao hơn để hướng dẫn linh hồn sinh đôi của mình đang tái sinh trên Trái Đất. Rất hiếm khi hai linh hồn sinh đôi cùng tái sinh đồng thời với nhau. Mối quan hệ giữa các linh hồn sinh đôi cũng giống như mối quan hệ giữa các thành viên gia đình hồn thường rất sâu sắc.

Trong một số trường hợp, những linh hồn sinh đôi đã được mang đến cùng nhau với rất nhiều cảm xúc mãnh liệt bởi vì đó là cách duy nhất mà các linh hồn sẽ tận tâm đối với nhau. Sự tận tâm trong mối quan hệ không phải luôn luôn là điều tốt, nhưng thông thường nó là cần thiết cho các cặp đôi để học các bài học linh hồn mà họ có thể không dễ dàng học được bởi chính họ.

- Có một lượng nhỏ các linh hồn không phân chia theo cách thức thông thường, mà giữ cả hai thái cực của chính họ trong cùng một sinh mệnh nên linh hồn đó sẽ không có linh hồn sinh đôi. Thông thường, các cặp linh hồn sinh đôi sẽ là nam giới và nữ giới. Tuy nhiên, đôi lúc, các khía cạnh nam và nữ sẽ ở trong một linh hồn. Những lúc khác, có thể sẽ là các linh hồn sinh đôi nam - nam hay nữ - nữ. Trong những trường hợp hiếm hoi, có thể có các linh hồn sinh ba – 3 linh hồn được sinh ra cùng một lúc từ linh hồn tối cao. Nhưng 99% các linh hồn được sinh ra như một cặp linh hồn sinh đôi và một trong các linh hồn ở lại trong các vương quốc cao hơn (thông thường là mật độ tầng thứ 7 hoặc, trong một số trường hợp hiếm hoi sẽ là tầng 6 hoặc 9) trong lúc đó một người khám phá các thế giới thấp hơn.

Một số lượng đáng kể những thành viên sinh đôi trong các chiều kích cao hơn đã chưa bao giờ tái sinh dưới mật độ 6. Một số cặp linh hồn sinh đôi đã tráo đổi các vai trò, có nghĩa là người bạn sinh đôi hiện đang ở trên Trái Đất hoặc một thế giới mật độ thấp khác trước đây đã ở trong các chiều kích cao hơn, trong khi đó người kia hiện đang ở trong các vương quốc cao hơn đã từng ở trên Trái Đất (hoặc một hành tinh tương tự).

- Các linh hồn sinh đôi luôn luôn ở cùng nhau vào mọi lúc dù không cùng một mật độ tầng thứ. Hầu hết các linh hồn sinh đôi sử dụng thời gian ở bên nhau giữa các lần tái sinh, hoặc trong những trải nghiệm ngoài thân xác, thiền định sâu, hay trạng thái mơ. Thỉnh thoảng, cả hai thành viên sẽ ở cùng một chiều kích vào cùng một thời gian (thường là tầng thứ 6 hoặc cao hơn), phụ thuộc vào cái mà mỗi linh hồn cá thể muốn học.

Hầu hết những mối quan hệ bạn tâm giao trên Trái Đất là giữa các thành viên gia đình hồn thứ cấp hoặc các thành viên gia đình hồn mở rộng. Tuy thế mà, những mối quan hệ này có thể khá mãnh liệt và đẹp đẽ và thường bị nhầm lẫn là mối quan hệ giữa những linh hồn sinh đôi.

- Các linh hồn sinh đôi thường không kết nối trực tiếp với nhau. Nguyên nhân là vì điều này mang lại lợi ích lớn nhất cho sự tiến hóa của linh hồn trên Trái Đất và linh hồn sinh đôi của mình. Sự kết nối trực tiếp chỉ có thể khi linh hồn trên Trái Đất đủ tiến hóa để nhận ra tính nghiêm trọng của sự tận tâm của mình đối với nhiệm vụ trên Trái Đất, và phải kiên trì chờ đợi thời gian tương lai cho sự tái hợp nhất với linh hồn sinh đôi. Những linh hồn tiến hóa cao trên Trái Đất sẽ kết nối với những người bạn sinh đôi của họ chỉ khi nó trợ giúp nhiệm vụ của họ trên Trái Đất.

Ngay khi một linh hồn tiến hóa đến tầng thứ 5 của tư tưởng, linh hồn đó có thể để gặp gỡ linh hồn sinh đôi của mình trong vương quốc cao hơn một cách trực tiếp, nếu linh hồn đó ở trong tầng thứ 6. Nếu các linh hồn cách nhau 2 hay 3 tầng thứ, sẽ là khó khăn hơn và thông thường thì liên lạc ngoại cảm được thiết lập. Do đó, nếu một linh hồn đã tiến hóa đến tầng thứ 5 và linh hồn sinh đôi ở tầng thứ 7, thì các linh hồn này sẽ có vẻ bắt đầu kết nối ở một tầng thứ ngoại cảm, hay có lẽ trong trạng thái mơ hoặc trong lúc thiền định. Khi các linh hồn đạt tới tầng thứ 6, sẽ có cơ hội gặp mặt trực tiếp linh hồn sinh đôi của mình nếu điều đó là phục vụ cho lợi ích cao nhất và tốt nhất của sự tăng trưởng linh hồn.

12.7) Các gia đình hồn nguyên thủy

Nếu một người thuộc về 99% các linh hồn đã phóng ra theo cách thức thông thường, thì người đó có 5 linh hồn khác từ gia đình hồn nguyên thủy của mình đang cư trú trên Trái Đất, và 6 thành viên gia đình hồn nguyên thủy trong các vương quốc cao hơn. Những thành viên gia đình hồn ở chiều kích cao hơn này đang hướng dẫn cho người này dù người này hiểu hay không hiểu về điều đó.

- Các thành viên trong gia đình hồn nguyên thủy có sự tác động năng lượng với nhau một cách khăng khít, gần gũi đúng như các thân nhân trong một gia đình đã gắn bó với nhau từ thuở ban đầu linh hồn được sinh ra. Các thành viên gia đình hồn sẽ tương tác, hỗ trợ các linh hồn trên Trái Đất nhưng không can thiệp vào tự do ý chí của những linh hồn này. Các linh hồn thuộc về cùng một gia đình hồn nguyên thủy trên Trái Đất thì rất hiếm khi gặp nhau. Nguyên nhân vì linh hồn tối cao mong muốn các trải nghiệm đa dạng sự sống nên các linh hồn này thường tái sinh vào những hoàn cảnh sống khác nhau. Bên cạnh đó, việc các linh hồn trong cùng một gia đình hồn nguyên thủy gặp nhau thường sẽ xuất hiện các mối quan hệ hết sức mãnh liệt và gây ra rất nhiều khó khăn, gây ra sự phân mảnh linh hồn và để lại nhiều dấu ấn năng lượng không tốt trong các thể của linh hồn. 

12.8) Các gia đình hồn thứ cấp

Như đã đề cập trước đây, thông thường có 144 thành viên của một gia đình hồn thứ cấp. Các gia đình hồn thứ cấp có cùng một tổng hồn, trong tầng thứ 9, hoặc họ đã được phân chia hai lần và có cùng một linh hồn tối cao trong tầng thứ 8. Mỗi linh hồn thường có 72 thành viên gia đình hồn thứ cấp trên Trái Đất và 72 thành viên trong các vương quốc cao hơn. Trong vài trường hợp, một số thành viên gia đình hồn thứ cấp có thể ở trong các thế giới mật độ thấp hơn ngoài Trái Đất.

Không giống với các thành viên gia đình hồn nguyên thủy, các linh hồn thứ cấp thường gặp một hoặc vài người khác trên Trái Đất. Một số có thể ở gia đình ruột thịt của mình như là cha mẹ hoặc anh chị em ruột, và một hay hai người có thể tham gia những mối quan hệ lãng mạn trong quá khứ hay hiện tại. Một người cũng có thể có một hoặc hai người bạn gần gũi là các thành viên gia đình hồn thứ cấp.

- Một người sẽ luôn luôn cảm thấy gần gũi với những thành viên gia đình hồn thứ cấp của mình, thậm chí nếu mối quan hệ tan vỡ hoặc một trong hai người rời bỏ thế giới vật lý thông qua cái chết. Ghi nhớ rằng các thành viên gia đình hồn thứ cấp đôi khi có cùng một linh hồn tối cao, nhưng luôn luôn có cùng một tổng hồn. Điều này có nghĩa là các linh hồn thuộc về cùng một gia đình thứ cấp sẽ bị thu hút đến nhiều những trải nghiệm giống nhau và sẽ thường cảm thấy một sự cộng hưởng với cùng các vị thầy, hay với những con đường tâm linh tương tự nhau.

12.9) Gia đình hồn mở rộng

Mở rộng ra từ cái tôi Christ tầng thứ 10 hay cái tôi Phật tầng thứ 10, hay hai sự phân chia từ tổng hồn ban đầu, hoặc trong một số trường hợp, ba sự phân chia từ linh hồn tối cao của bạn, là các thành viên gia đình hồn mở rộng, thường có 1728 thành viên. Một người sẽ chắc chắn gặp nhiều những người này trong đời sống hiện tại của mình. Họ có thể là các thành viên của một cộng đồng có chủ ý, một giáo đoàn hay một hội nhóm. Họ cũng có thể là những người họ hàng, những cô dì, chú bác, những người bạn của người này... Trong một số trường hợp, họ có thể là những người chồng hoặc người vợ, hoặc một người bạn rất thân. Trong khi sự kết nối không sâu sắc như những thành viên gia đình hồn thứ cấp, vẫn có một cảm giác của những người bạn tâm giao, có cùng một con đường tâm linh, và chia sẻ những đời sống quá khứ với nhau.

Những người bạn tâm giao thường có rất nhiều thay đổi trong các thị hiếu và các sở thích, trong khi những thành viên gia đình hồn mở rộng có rất nhiều điểm chung. Những người bạn tâm giao có thể bổ sung cho nhau, có nghĩa là điểm mạnh của một người là điểm yếu của người kia và ngược lại. Những thành viên gia đình hồn mở rộng, mặt khác, thường có điểm mạnh và điểm yếu trong cùng các lĩnh vực.

12.10) Các dòng dõi linh hồn

- Dòng dõi linh hồn trực tiếp là là những linh hồn từ đó các một linh hồn được phóng ra vào lúc ban đầu. Bên cạnh đó, linh hồn này cũng có các dòng dõi khác hình thành khi các mảnh hồn lớn của mình đồng hóa với các vị thầy vĩ đại hay những nhà lãnh đạo (một phần của linh hồn kết hợp và hòa trộn các năng lượng của nó với vị thầy hoặc người khởi đầu của dòng dõi và trải nghiệm, ở một mức độ nào đó, cái mà vị thầy hoặc người khởi đầu đang trải nghiệm). Như là những bậc đạo sư và những nhà hiền triết của linh hồn đó có những dòng dõi đặc biệt trên Trái Đất, một sự xắp đặt tương tự cũng tồn tại trong vũ trụ. Ngoài ra, một linh hồn cũng có những dòng dõi ngoài hành tinh, như là Chúa Melchizedek, các thầy tu cao cấp của Melchizedek, và các thầy tu thông thường của Melchizedek. 

- Một người có thể có một dòng dõi bất cứ khi nào một hoặc nhiều hơn những mảnh hồn chính của người này được gắn kết vào một dòng dõi cụ thể của các vị thầy hoặc những sinh mệnh Ánh Sáng. Nếu những sinh mệnh Ánh Sáng này thực sự tiến hóa, yêu và thương, dòng dõi có thể là lợi ích lớn lao cho sự tiến hóa linh hồn của người này. 

- Một người có thể bị thu hút một cách sâu sắc, có mối quan hệ hoặc cảm thấy giống gia đình đối với một vị thầy hay một nhóm các sinh mệnh nào đó thì các cấu trúc nơi vị thầy hoặc nhóm sinh mệnh này thuộc về cũng có thể chính là dòng dõi linh hồn của người này. Khi một người có một hoặc nhiều mảnh hồn lớn đồng nhất với những dòng dõi này, người này có thể tạo ra "các cái tôi" thay thế là các thành viên của những tổ chức này. Ví dụ, một người có thể là một sinh viên của Chúa Melchizedeck, một thành viên của Hội Đồng Ngân Hà, một thành viên trong nhóm giả kim thuật thần thánh của Thoth, một đại diện của Phẩm Cấp của Metaron, một Lightworker của Phẩm Cấp Elohim.

- Một người có thể phóng một phần của năng lượng linh hồn mình vào bất kỳ sinh mệnh nào, vào bất kỳ thời gian nào, cho mục đích trải nghiệm cái mà sinh mệnh đó đang trải qua (với sự cho phép thích hợp từ linh hồn khác). Điều này có thể có lợi ích vô cùng trong việc hiểu được những bài học của linh hồn mình. Nó cũng có thể có những tác động có hại đáng kể nếu người này trở nên dính mắc với sinh mệnh đó trong một cách không lành mạnh. Một người cũng có thể phóng các mảnh của mình vào các linh hồn của những người yêu mến và đã kết hợp và hòa trộn một phần của mình vào những linh hồn đó.

13) Tất cả các sinh mệnh con người đều có linh hồn

- Trong thể xác mỗi người luôn có một phần năng lượng linh hồn - là một mảnh hồn, được phóng ra từ phần hồn cha mẹ. Mảnh hồn này có thể lớn hoặc nhỏ tùy từng người nhưng luôn luôn có để điều khiển, kiểm soát năng lượng sống, tư tưởng trong thể xác. Một người có thể chịu tác động của một hoặc nhiều mảnh hồn từ nhiều linh hồn khác nhau. Nếu phần cha mẹ của một linh hồn bị lấn át bởi những mảnh hồn từ các linh hồn khác, nó có vẻ là sinh mệnh con người đó có nhiều nhân cách, hay tâm lý không ổn định.

Nhiều người bị chiếm hữu hoàn toàn hay bị chiếm hữu một phần bởi các mảnh hồn của các linh hồn khác. Điều này có nghĩa là những mảnh của các linh hồn khác đã nhúng bản thân họ rất sâu vào trong một sinh mệnh con người cụ thể khiến họ thống trị tư tưởng của bản ngã/nhân tính của linh hồn đó. Phần cha mẹ của linh hồn đó đã tạm thời mất cảm giác với thân thể đã được chỉ định từ ban đầu.

14) Những thỏa thuận và hợp đồng linh hồn

Những thỏa thuận linh hồn và những hợp đồng linh hồn là các khuôn mẫu năng lượng được tạo ra thông qua sự ưng thuận lẫn nhau bởi hai hay nhiều hơn các linh hồn. Nó là không đủ để chỉ tuyên bố rằng những hợp đồng đó là có hiệu lực, hay không có hiệu lực hoặc vô giá trị, như trường hợp nào đó. Cần phải có một sự kích hoạt năng lượng, trong trường hợp hình thành nên một thỏa thuận, hay một sự tha thứ và buông bỏ, trong trường hợp phá vỡ một thỏa thuận.

Mức độ mãnh liệt của năng lượng hiện diện khi các linh hồn làm các thỏa thuận và các hợp đồng xác định mức độ thuận lợi thế nào khi giữ chúng, và khó khăn như thế nào để phá vỡ nó. Trái ngược với một số lời dạy, không có những vị thần phụ trách nghiệp đang thi hành các thỏa thuận linh hồn và các hợp đồng linh hồn.

Mọi thỏa thuận linh hồn hay hợp đồng linh hồn đều có thể bị phá vỡ, mặc dầu nó có thể rất khó khăn trong một số trường hợp. Mục tiêu của các thỏa thuận giữa các linh hồn là đơn giản. Có sức mạnh trong số đông. Bất cứ khi nào hai hay nhiều người hơn tập hợp với nhau, có một tác động hợp lực nếu họ tập trung vào việc tạo ra một điều gì đó cùng nhau.

Nhiều trường hợp, các linh hồn làm một hiệp ước rằng họ sẽ ở cùng nhau mãi mãi. Điều này xuất phát từ một hiểu biết sai lầm về bản chất của vũ trụ, khi mà tất cả các linh hồn được kết nối mật thiết với nhau cho dù như thế nào. Tuy nhiên, do bởi niềm tin vào sự chia rẽ, các linh hồn thường đi vào một lượng thời gian rất lớn để giữ sự hiểu biết của họ về sự kết nối của họ với một người khác. Khi những cảm xúc giữa các linh hồn là mạnh mẽ, họ có thể muốn thần thánh hóa sự hợp nhất của họ với hình thức và nghi lễ. Những nghi lễ như vậy có thể sống sót sau cái chết của thân thể vật lý và được mang theo như những dấu ấn ether và các khuôn mẫu năng lượng thân thể nhân quả vào các đời sống tiếp theo.

- Các linh hồn có thể giữ hoặc phá vỡ các hiệp ước mà không có án phạt hay sự trừng phạt nào thật sự xảy ra. Bên cạnh đó, cũng không có sự tích lũy nghiệp nhưng nếu việc phá vỡ hiệp ước, linh hồn trong trường hợp vẫn có các vấn đề tình cảm, tâm trí thì linh hồn phá vỡ cần phải hàn gắn và giải phóng các vấn đề đó. Nguyên nhân khiến các linh hồn giữ các hiệp ước, hợp đồng linh hồn thường xuất phát từ niềm tin tiêu cực sẽ có điều gì xấu xảy ra đi kèm cảm giác hổ thẹn, tội lỗi nếu các linh hồn đó phá vỡ các hiệp ước, hợp đồng với các linh hồn khác.

- Các linh hồn muốn phá vỡ các hiệp ước, hợp đồng với nhau thường do nguyên nhân về sự tiến hóa không đồng điều. Một linh hồn trong hiệp ước, hợp đồng thường tiến hóa hơn linh hồn còn lại. Nếu tiếp tục giữ hiệp ước, hợp đồng thì sẽ cản trở cho sự tiến hóa của một hoặc cả hai linh hồn. Cách nhanh nhất để phá vỡ các thỏa thuận và các hợp đồng là thông qua việc tha thứ và bông bỏ. Điều quan trọng để nhận ra là tình yêu và tình thương không phụ thuộc vào việc có hay không giữ các thỏa thuận và các hợp đồng. Một người có thể yêu một người khác sâu sắc trong khi đang phá vỡ mọi thỏa thuận đã làm với người ấy.

15) Các mối quan hệ của linh hồn

15.1) Những mối quan hệ nghiệp

Loại quan hệ linh hồn thông thường nhất trên Trái Đất liên quan đến các thỏa thuận nghiệp. Một hợp đồng nghiệp giữa hai hay nhiều hơn các linh hồn gồm các bài học mà mỗi linh hồn khao khát mà có thể được học tốt nhất bằng cách ở trong mối quan hệ với nhau.

Những mối quan hệ nghiệp không luôn luôn giữa các linh hồn đã biết nhau trong các đời sống trước. Nếu linh hồn khao khát học một bài học nào đó trong kiếp sống hiện tại và do đó, thu hút các linh hồn khác có tầng thứ rung động đáp ứng bài học đó đến với mình thì mối quan hệ đó là mối quan hệ nghiệp. Trong những mối quan hệ nghiệp thông thường, có rất nhiều việc dạy và học xảy ra liên tục giữa cả hai người và hai người trao đổi cho nhau vai trò thầy - trò.

Tất cả các mối quan hệ đều liên quan đến sự trao đổi năng lượng. Điều này là thực sự bất kể tầng thứ hiểu biết giữa những đối tác. Nếu năng lượng được biểu hiện một cách ngắn gọn và với toàn bộ sự chú ý và sự chấp nhận, không có nghiệp hoặc "công việc chưa hoàn thành" nào xuất hiện. Mỗi một sự trao đổi là toàn bộ, đầy đủ và thích hợp. Do đó, có thể nói rằng mối quan hệ là trong sáng và rõ ràng. Nếu các tình cảm tiêu cực được kèm theo sự trao đổi năng lượng, có khả năng linh hồn nhận đang tiếp nhận năng lượng đó và mang theo nó vào trong trường ether của mình. Dù các linh hồn có hay không từ chối cái mà họ đang phóng ra vào nhau, hoặc về cái mà họ đang nhận, các mảnh năng lượng của họ có khả năng bị gắn vào người khác, và ngược lại. Đây chính là nơi mà sự phân mảnh linh hồn xảy ra. Để không trao / nhận những năng lượng tiêu cực dẫn đến phân mảnh linh hồn, mỗi một người trong mối quan hệ cần có sự nhận thức đúng đắn về bài học, tình yêu, tình thương thật sự trong một mối quan hệ cũng như có sự chữa lành cho những thương tổn từ các mối quan hệ trước đó.

15.2) Mối quan hệ thầy - trò

Các linh hồn có xu hướng hấp dẫn những người khác có rung động tương tự, hoặc họ hấp dẫn những linh hồn là hoàn hảo và phù hợp cho việc phản ánh lại họ cái mà họ cần học. Khi các linh hồn được mang đến cùng nhau có rung động tương tự nhau, nhưng có rất nhiều bài học để dạy và học từ nhau, thì mối quan hệ là quan hệ nghiệp. Nếu một linh hồn liên tục tiến hóa hơn người kia, họ có thể vẫn bị hấp dẫn đến một người với mối quan hệ khác như là thầy – trò, hay trò – thầy. Mối quan hệ thầy – trò có thể là chính thức hoặc không chính thức. Nếu nó là chính thức, nó có thể là một mối quan hệ sư phụ - đệ tử, giáo viên - học trò. Nếu không chính thức, thì đó có thể là bất kỳ mối quan hệ nào mà trong đó, một người tiến hóa hơn dạy người còn lại các bài học nào đó.

Những linh hồn giác ngộ cao tái sinh vào các gia đình cùng một dòng máu đã hạ xuống vào bóng tối thường đi vào những môi trường như vậy để là một vị thầy đối với những người bị kẹt trong tính hai mặt đối lập. Điều này cũng tương tự như trường hợp ngược lại, các bậc cha mẹ giác ngộ sinh ra những đứa con đã hạ xuống vào bóng tối.

- Các mối quan hệ thầy - trò đi đến hồi kết thúc khi các sinh mệnh trong mối quan hệ nhận ra rằng khi các bài học đã được học một cách đầy đủ và tách ra một cách hòa nhã. Tuy nhiên, đôi lúc hoặc là đệ tử hoặc là sư phụ không hiểu được khi nào thì đạt tới điểm đó. Trên thực tế, họ đã trở nên dính mắc vào nhau hoặc dính mắc vào ý tưởng hay hình ảnh của cái "nên được" hoàn thành trong mối quan hệ. Khi sự dính mắc vào nhau xảy ra, có thể thường người thầy nhúng một số mảnh hồn của anh ta vào các học trò như là một biện pháp để kiểm soát những hành động và những ứng xử của người trò. Có rất nhiều những vị thầy với các hành trình kiểm soát. Họ đã trở nên ràng buộc vào vai trò của họ như một đấng cứu thế của người học trò và không muốn bất cứ điều gì đe dọa mối quan hệ đó.

- Ngược lại, một số người thầy không bị dính mắc vào những học trò của họ, nhưng những học trò, có rất nhiều sự thiếu tự tin, phóng những cảm xúc này vào người thầy. Họ trở nên ràng buộc tình cảm với người thầy và sự tự tin của họ phụ thuộc vào việc giành được sự tán thành của người thầy. Do đó, họ có các mảnh hồn được nhúng trong người thầy, hoặc, nếu người thầy không cho phép điều đó, thì những mảnh hồn có thể lang thang xung quanh thể aura của vị thầy.

15.3) Những mối quan hệ đồng sáng tạo

- Khi một mối quan hệ đi qua các "giai đoạn trăng mật", "giai đoạn đấu tranh quyền lực" thì sẽ đến "giai đoạn đồng sáng tạo" - đây là giai đoạn giúp đỡ lẫn nhau để tăng trường và tiến hóa hoặc cùng sáng tạo ra các giá trị trong các ngành nghề.

Những mối quan hệ đồng sáng tạo có thể giữa những người bạn tâm giao, hay giữa những gia đình hồn nguyên thủy, những gia đình hồn thứ cấp và những gia đình hồn mở rộng, hay thỉnh thoảng giữa các linh hồn không có một sự kết nối linh hồn sâu sắc. Trái ngược với cái mà một số người có thể nghĩ, những mối quan hệ đồng sáng tạo là khó khăn hơn khi các linh hồn giống nhau hơn. Thay vào đó, ý tưởng cặp đôi đồng sáng tạo là sự bổ sung cho nhau, có nghĩa là những điểm mạnh của một người là những điểm yếu của người kia, và ngược lại.

Những mối quan hệ đồng sáng tạo không nhất thiết phải là các linh hồn đều đang trên một con đường tâm linh sâu sắc một cách có ý thức. Bao lâu họ còn có khả năng thực hiện công việc kinh doanh của họ hay những hoạt động phi thương mại theo một cách thức hài hòa mà bổ sung cho mỗi người và làm giàu cho cuộc sống của những người quanh họ, thì họ đang ở trong một mối quan hệ đồng sáng tạo một cách thành công. Những mối quan hệ này cũng để đạt được các bài học linh hồn của họ nhưng không phụ thuộc vào việc có cùng tầng thứ rung động. Họ đến cùng nhau để tạo nên cái gì đó có giá trị mà không phụ thuộc vào việc gần gũi nhau về mặt tinh thần.

- Việc mối quan hệ đồng sáng tạo kéo dài bao lâu thường liên quan đến sự tương đương nhau về trình độ tâm linh của những người tham gia vào mối quan hệ. Sự tương đương càng lớn thì mối quan hệ đồng sáng tạo càng bền vững và ngược lại.

15.4) Những mối quan hệ giác ngộ

Khi cả hai thành viên của một cặp hiểu biết một cách có ý thức về bản thân họ như những linh hồn đang tiến hóa và đang chủ động tìm kiếm để hàn gắn, buông bỏ và đồng nhất các vấn đề linh hồn, thì họ đang di chuyển vào một mối quan hệ giác ngộ. Hiểu biết về sự tiến hóa linh hồn của một người, và các tầng thứ sinh mệnh của một người, có nghĩa là nhận lấy trách nhiệm cho rất nhiều trong số tất cả những trải nghiệm thách thức. Nó có nghĩa là không còn phóng ra bất kỳ sự đổ lỗi nào cho người khác. Nó có nghĩa là lắng nghe chăm chú một cách chính xác và không có sự phán xét về cái gì đang được giao tiếp, và vượt qua các rào cản đến sự kết nối.

Những mối quan hệ giác ngộ được dựa trên vài tiền đề. Đầu tiên là mục đích của mối quan hệ là làm cho sự tăng trưởng và sự tiến hóa của mỗi người trở nên dễ dàng hơn. Thứ hai, mục tiêu của mối quan hệ là một nguồn gốc của niềm vui, sinh khí, sự phong phú và nguồn cảm hứng cho mỗi người và cho thế giới. Nó không hạn chế người khác, làm dịu bớt nỗi đau khổ, bù đắp cho sự cô đơn, hay lấp đầy một số dạng thiếu thốn.

Những cặp đôi giác ngộ là hai sinh mệnh tinh thần toàn bộ, trọn vẹn. Họ không phải là "một nửa kia" của nhau đang tìm kiếm cách hoàn thiện mình thông qua người kia, họ không dính mắc, chiếm hữu và ràng buộc vào nhau. Mục đích của họ là chia sẻ sự toàn bộ và sự trọn vẹn của họ với nhau, và hân hoan trong những sự khác biệt và sự đa dạng của nhận thức. Họ không tìm cách để làm cho người bạn trở nên giống họ hơn, mà thưởng thức tính đa dạng và vẻ đẹp của những quan điểm khác.

Các cặp đôi giác ngộ thấy Thượng Đế trong nhau và trong chính bản thân họ. Họ đang yêu và thương chính họ và với nhau, tuy thế cùng lúc đó vẫn thực tế. Họ không chờ đợi những người bạn của họ luôn luôn biết chính xác cái mà họ cần, hay cái mà họ đang cảm nhận. Họ tìm cách để đóng góp vào hạnh phúc và sự lành mạnh của nhau, mà không trở nên lệ thuộc hay hy sinh quên mình.

- Về sự giao tiếp trong các mối quan hệ giác ngộ thì một thành viên trong các cặp đôi giác ngộ giao tiếp tốt nhất thông qua ngoại cảm và trực giác. Tuy nhiên, vẫn có sự sai lầm xuất phát từ những định kiến dựa trên thời gian quá khứ đã ở cùng thành viên còn lại. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều những hệ thống giao tiếp đã cho thấy hiệu quả trong việc giải quyết xung đột và tăng cường tình yêu và tình thương. Không phải tất cả các hệ thống đều thích hợp với tất cả mọi người. Một số phát triển tốt trong một môi trường giao tiếp phi bạo lực, những hệ thống khác trong môi trường giao tiếp phản chiếu và hồi đáp không phán xét. Nguyên tắc số một của sự giao tiếp giác ngộ là hiện diện đầy đủ đối với người khác. Có nghĩa là một người thực sự đang lắng nghe, không đáp trả hay phản ứng. Điều đó tức là trao cho mỗi người một cơ hội để thể hiện, mà không trở nên mất kiên nhẫn hay mất tập trung. Các cặp đôi giác ngộ có cũng thể nhận sự phê bình và sự đáp lại tiêu cực nếu họ có một thỏa thuận thể hiện các cảm xúc của họ một cách cởi mở và chân thật mà không đổ lỗi cho nhau.

15.5) Các cộng đồng và mối quan hệ trong các cộng đồng giác ngộ tâm linh

- Hiện tại có nhiều cộng đồng tâm linh trên hành tinh Trái Đất. Để các cộng đồng tâm linh thịnh vượng, phải có hai khu vực chính nơi mà các thành viên đã đạt đến một tầng thứ làm chủ cao. Khu vực đầu tiên là khả năng thể hiện công việc vật lý theo một cách hợp lực, với mỗi thành viên đóng góp một phần công việc thích hợp. Những tính chất thích hợp không lười biếng và cũng không lệ thuộc vào người khác, hay cũng không phải là người tham công tiếc việc. Sự phụ thuộc và lười biếng đặt gánh nặng quá mức lên những người khác, trong khi tham công tiếc việc lấy mất niềm vui và sự hài hước của cộng đồng. Sống trong mối quan hệ phù hợp với người khác bao gồm những tương tác của các thành viên với thế giới vật chất, cũng như tinh thần tuân theo sự công bình.

- Điều quan trọng là chân thật và tôn trọng sự khác biệt của những lối sống và nền tảng của những người đang mong muốn sống với nhau một cách hòa hợp. Nó là không thực tế khi hình thành một cộng đồng với dự định là tất cả các thành viên đều giàu có, hoặc tất cả đều biết làm vườn, hoặc tất cả đều biết nghề mộc. Một sự cân bằng của các năng khiếu và kỹ thuật là cái làm một cộng đồng thịnh vượng.

- Yêu cầu khác là năng lực tâm linh của mỗi thành viên tương hợp với năng lực tâm linh của cộng đồng. Nếu có một số linh hồn tương đối tiến hóa, và những người khác đang bị kẹt trong bóng tối, tất cả đang cố gắng để sống cùng nhau trên một mảnh đất, cộng đồng đó có thể vượt qua những thứ vật chất, nhưng sẽ không thịnh vượng. Mặt khác, những linh hồn tiến bộ về tâm linh không có các năng khiếu và kỹ thuật vật lý sẽ không tiến xa được trong việc trở nên tự cung tự cấp. 

Tự cung tự cấp là đáng khao khát, nhưng nó khác với chủ nghĩa biệt lập. Các cộng đồng tâm linh thịnh vượng cách xa những người hàng xóm của họ và làm bạn với những chuyên gia và những người với quan điểm khác biệt. Họ có thể có tiêu chuẩn nghiêm khắc về tư cách thành viên, nhưng họ không ngăn chặn ai. Họ nhìn tất cả mọi người như một sinh mệnh tinh thần kỳ diệu, sáng tạo, tuy thế họ nhận ra rằng cộng đồng của họ không dành cho tất cả mọi người.

Các cộng đồng giác ngộ giải quyết xung đột theo một cách yêu thương, nhưng thẳng thắn, ứng dụng một số dạng của sự nhất trí mà chỉ những người có cùng trình độ tâm linh có thể hoàn thành. Biết về nhau một cách sâu sắc làm cho những xung đột dễ dàng hơn nhiều để giải quyết bởi vì những nhu cầu được thông tin một cách rõ ràng và chính xác và được nhận với tình thương, bất chấp việc các thành viên khác có hay không đáp ứng được các nhu cầu đó.

15.6) Những mối quan hệ đồng tính

- Các mối quan hệ đồng tính không có gì khác với các mối quan hệ khác giới tính thông thường ngoại trừ các dòng năng lượng trội của họ có sự khác biệt so với các linh hồn thông thường.

Những cặp đôi giác ngộ có thể cảm thấy thoải mái trong việc nắm lấy giới tính bên trong. Trong một số trường hợp hiếm hoi, một người đàn ông có thể chấp nhận là giới tính nữ trong khi người phụ nữ chấp nhận vai trò nam. Nói cách khác, họ có thể thay đổi các vai trò khác nhau. Hai người phụ nữ trong mối quan hệ có thể quyết định là cả hai đều giữ vai trò nam giới, hoặc hai người đàn ông giữ vai trò nữ giới. Không có các cách biểu hiện giới tính đúng và sai bao lâu sự biểu hiện đó nâng cao chất lượng cho sự tiến hóa linh hồn của những người liên quan.

Điều quan trong đối với mối quan hệ đồng tính là nó có hay không đóng góp vào sự tiến hóa linh hồn của những người đang thực hành chúng. Nếu chúng có đóng góp, thì mối quan hệ là có lợi. Nếu không, thì sự hàn gắn là cần thiết. Những mối quan hệ không có tội lỗi và sự hổ thẹn là có vẻ bảo tồn sự hợp nhất linh hồn với ít hoặc không có sự phân mảnh linh hồn. Nếu hai người đàn ông, hay hai người phụ nữ, yêu nhau sâu sắc và trao và nhận tình yêu đó một cách tự nguyện, mà không có sự lưu giữ (tội lỗi và sự hổ thẹn), thì sự trao đổi là trong sáng và rõ ràng và không có sự phân mảnh xảy ra. 

15.7) Những tương tác nhiều bạn tình

- Trong một số các vương quốc cao hơn nói chung một số sinh mệnh có nhiều bạn tình. Tuy nhiên việc có nhiều bạn tình sẽ gây ra các vấn đề như với con người trên Trái Đất. Đó là tính không trung thực, sự ghen tuông, sự chiếm hữu và sự lệ thuộc mà thường khởi lên giữa những người bạn tình. Các sinh mệnh trong các vương quốc cao hơn đã đi đến hiểu biết rằng có đủ tình yêu cho tất cả mọi người và không ai không có tình yêu. Họ vui mừng khi một người bạn thân hoặc một người bạn tình có một trải nghiệm giác ngộ với một linh hồn khác và điều này cũng không lấy đi trải nghiệm của họ về tình yêu đối với người đó. Việc đi vào các mối quan hệ như thế này sẽ giúp các sinh mệnh đạt được những sự hợp nhất làm cho phong phú hơn và sống động hơn, có nhiều năng lượng hơn và có nhiều tình yêu hơn để trao cho các linh hồn khác trong cuộc sống của mình. 

- Đối với những người đa tình trên Trái Đất, hầu như không thể điều khiển được các tư tưởng đối lập và những sự phức tạp đi cùng những mối quan hệ như vậy. Một vài người có thể xử lý được việc có nhiều bạn tình, nhưng phần lớn là đang tự lừa dối bản thân họ. Sự thành công với việc có nhiều bạn tình phụ thuộc vào tầng thứ mãnh liệt của mỗi mối quan hệ và mức độ giao tiếp giác ngộ giữa mỗi thành viên trong nhóm. Tất cả những điều này sẽ dẫn đến sự mệt mỏi, kiệt sức hay là sự mất mát năng lượng của những người đang trong các mối quan hệ như thế này. 

16) Sự mang thai của các sinh mệnh trong các vương quốc

16.1) Sự mang thai giác ngộ

- Những linh hồn tiến hóa cao vượt trên tư tưởng mật độ 4 có thể lên kế hoạch cho sự mang thai của họ và có thể giao tiếp với linh hồn (các linh hồn) đang nhập thai trước sự mang thai. Trong thực tế, họ có thể lập kế hoạch làm cha mẹ của họ.

- Việc ngoại cảm với linh hồn (các linh hồn) đang nhập thai đến mức độ là cha mẹ có thể biết cái mà đứa trẻ sẽ được sinh ra muốn trải nghiệm và cái gì là những bài học linh hồn trên Trái Đất của đứa bé là gì. Tất nhiên, điều này yêu cầu sự lắng nghe thật cẩn thận và một sự sáng suốt tích cực và bản năng ngoại cảm. 

16.2) Sự mang thai trong các vương quốc cao hơn

Trong mật độ 3, sự mang thai và sinh nở chủ yếu là tiềm thức và bản năng. Những người phụ nữ bị kẹt trong mật độ 3 có một bản năng sinh con rất mạnh mẽ và nó thường chế ngự những trạng thái tình cảm và tâm trí của họ. Họ có thể không sẵn sàng hoặc chưa đủ trưởng thành để nuôi dưỡng một đứa trẻ, nhưng nỗ lực của họ để có một gia đình quan trọng hơn điều đó và họ thụ thai và sinh con khi còn trẻ.

- Trong mật độ 4, những bậc cha mẹ có khả năng lập kế hoạch gia đình của họ một chút có ý thức hơn. Thường có một sự tác động qua lại lẫn nhau giữa sự hiểu biết tình cảm/tâm trí và bản năng sinh nở. Những linh hồn mật độ 4 cao hơn có thể giao tiếp với những linh hồn đang nhập thai để tham dự một cách tích cực vào những bài học của linh hồn trên Trái Đất. 

- Trong mật độ 5, cấu trúc vật lý của những sinh mệnh con người thay đổi một cách đáng kể. Các linh hồn đi vào các thân thể mật độ 5 không đòi hỏi sự giao hợp tính dục. Họ có thể phóng một phần của bản thân họ từ phần cha mẹ của linh hồn họ trực tiếp vào bụng của một bà mẹ mật độ 5. Đứa trẻ mật độ 5 tiến hóa nhanh hơn những đứa trẻ trong mật độ 3 và 4, và không thể hiện các ràng buộc tình cảm thường thấy trong những đứa trẻ mật độ thấp.

- Trong mật độ 6, các linh hồn không cần bụng của một bà mẹ nhằm để tái sinh. Họ có khả năng sản xuất một thân thể trực tiếp vào một hành tinh mật độ 6 và bắt đầu thực hiện chức năng như một sinh mệnh ánh sáng rực rỡ. 

- Trong mật độ 7, các linh hồn được biểu lộ bằng bất kỳ một phương tiện nào cần thiết, thích hợp với môi trường đang trải nghiệm, khám phá.

Vượt trên mật độ 7, khái niệm thân thể trở nên vô nghĩa, mặc dầu các sinh mệnh trong các vương quốc cao hơn này có thể xuất hiện với các thân thể khi được quan sát bởi những người sáng suốt và những người có khả năng ngoại cảm trên Trái Đất. Trong thực tế, họ là các sinh mệnh Ánh Sáng bao la, nhưng tâm trí của các linh hồn trên Trái Đất sẽ có vẻ diễn giải Ánh Sáng này trong một dạng có thể hiểu được, gọi tên là, một dạng giống con người.

Thursday, September 9, 2021

(Tóm tắt sách) Hợp nhất linh hồn (phần 2)


8) Hàn gắn sáu thân thể thấp 

Sáu khía cạnh thấp của một người gồm các thân thể vật lý, tình cảm, trí, astral, ether và nhân quả. Khi một hoặc nhiều hơn của các tầng thứ này mất cân bằng có thể dẫn đến ốm đau, bệnh tật, rối loạn, và thiếu năng lượng. Khi sáu thân thể thấp được hàn gắn, được thẳng hàng và được hợp nhất, người này có thể biểu hiện ra sức mạnh, óc sáng tạo, năng lượng tinh thần một cách tự nhiên trong cả các thực tại bên trong và các thực tại bên ngoài.

8.1) Tầng thân thể vật lý

- Các bước cần thiết sau để hàn gắn thân thể vật lý: 

Thở đầy đủ, thoải mái và sâu. Thực hành phương pháp rebirthing, chữa bệnh bằng tâm lý, phép thở lửa, kỹ thuật thở pranayama, yoga kundalini, hoặc các kỹ thuật khác liên quan đến việc thở sâu. Những hoạt động như vậy tăng lượng oxy trong máu và giúp loại bỏ các chất độc khỏi hệ thống.

+  Sống chậm lại và dành cho mình thời gian khi thực hiện các công việc. Dành những lúc giải lao khi làm công việc lặp đi lặp lại, bao gồm những lúc giải lao khi ngồi trước màn hình máy tính hay khi sử dụng điện thoại.

+ Giảm thiểu thời gian ngồi trước màn hình tivi.

Sống ở, hay du hành qua, những vùng có một rung động cao.

+ Giảm thiểu thời gian trong các thành phố lớn, đặc biệt những vùng ngang mực nước biển.

+ Vây quanh mình bằng những linh hồn khác đang tận tâm với con đường tâm linh của họ và đang rung động điều hòa với tần số của chính linh hồn mình. 

Ăn những thức ăn thanh khiết, sạch, hoàn toàn hữu cơ càng thường xuyên càng tốt.  

Uống nước khoáng sạch, tinh khiết khi có thể, hoặc ít nhất giảm thiểu những chất hóa học trong nước uống. 

Tập luyện thường xuyên, gồm đi bộ và vận động thân thể một cách nhẹ nhàng, như là yoga hoặc thái cực quyền. Mục tiêu hợp lý nhất của một sự luyện tập là tăng cường dòng chảy năng lượng qua thân thể và làm nó khỏe mạnh lên. 

Gửi tình yêu và sự cảm mến cho thân thể vật lý hàng ngày. 

Massage, tập phương pháp Reiki, hay các kỹ thuật hàn gắn khác ít nhất một lần một tháng, hoặc thường xuyên hơn nếu có chấn thương trong lúc chơi thể thao hoặc bị đau do một vụ tai nạn xe máy trước đó.

Thực hiện việc thông ruột hay dùng detox (một quy trình giúp loại bỏ các độc tố, vi khuẩn, ký sinh trùng và các chất dư thừa còn bám vào thành ruột) hai hay ba lần một năm nếu có xu hướng bị tắc ruột hoặc có ký sinh trùng trong quá khứ.

Uống các loại bột supergreen (tảo spirulina, tảo chlorella, lúa mạch, lúa mỳ, tảo bẹ, vv...), và các chất bổ sung vitamin và khoáng chiết xuất từ thực phẩm hữu cơ sống, dưới dạng bột hoặc dạng lỏng.

Sử dụng các loại thuốc thảo mộc, các loại dầu tinh chất, và các sản phẩm khác chiết xuất từ các nguyên liệu tự nhiên.

+ Sử dụng các loại dầu gội nguồn gốc tự nhiên và các mỹ phẩm không có các chất hóa học mạnh.

+  Sống trong các tòa nhà được làm từ các vật liệu có nguồn gốc tự nhiên.

+ Sống trong những tòa nhà hình tròn, hình kim tự tháp, hoặc hình vòm, khi có thể, hơn là sống trong các tòa nhà hình vuông hay hình chữ nhật.

Phơi nắng nhiều, trong khi giảm thiểu việc sử dụng các chất chống nắng hay chất nhuộm da.

Giảm thiểu việc sử dụng điện thoại di động, và sử dụng một tấm bảo vệ hay tấm lọc khi có thể.

+ Nghe những âm nhạc du dương, nâng cao rung động.

+ Tham dự những sự kiện âm nhạc trực tiếp, những điệu nhảy hoặc những lễ hội giúp nâng cao rung động.

+ Hòa nhịp với thiên nhiên, ngắm những chu chim, mây, cây cối, và hoa lá.

Sử dụng nhiều thời gian trong vườn.

+ Sử dụng thời gian cho các con thú dễ hương hoặc thú cưng.

+ Mặc quần áo làm từ sợi tự nhiên, như là bông hoặc len.

+ Giảm thiểu ánh sáng và tiếng ồn trong lúc ngủ.

+ Ngủ trên một chiếc nệm thoải mái.

+ Ở trong ngôi nhà thoáng khí, không quá khô hay quá ẩm. Thường xuyên kiểm tra lượng bụi bẩn, nấm mốc, hay các chất hóa học kích thích xung quanh bạn.

+ Sử dụng những sản phẩm sạch tự nhiên.

+ Tái chế và sử dụng theo một lối sống ít dấu vết carbon.

+ Chia sẻ các bữa ăn với gia đình và bạn bè.

+ Tổ chức những bữa ăn tập thể vui vẻ. Sống với cộng đồng và nhận thật nhiều những cái ôm.

- Nhận biết các dấu hiệu của ốm đau và sự thăng lên để có biện pháp xử lý phù hợp.

8.2) Thể tình cảm 

 - Để hàn gắn tình cảm, một người phải cảm nhận đầy đủ, trải nghiệm đầy đủ và thể hiện đầy đủ các tình cảm của mình, cùng lúc đó giữ sự chia tách và quan sát chúng từ một nhận thức cao hơn. Đối với người bị mắc kẹt trong các vấn đề tình cảm thì đối với họ, luôn luôn có một vấn đề cần giải quyết. Chưa bao giờ được chứng kiến một ngày an tĩnh và thanh bình. Những người bị kẹt trong các vấn đề tình cảm luôn luôn chờ đợi điều tồi tệ gì đấy sẽ xảy ra.

- Hàn gắn tình cảm không có nghĩa là chối bỏ, từ bỏ, đè nén tình cảm mà cơ bản là không dính mắc với tình cảm dù có cảm nhận hoặc trải nghiệm chúng. Việc từ bỏ hay đè nén tình cảm sẽ làm tiêu tốn một lượng năng lượng đủ lớn và thường đến một lúc nào đó, những tình cảm này sẽ bộc lộ trở lại (thường khi người đó không còn đủ năng lượng để đè nén chúng).

- Tất cả những người có thân thể vật lý thì đều có những vấn đề tình cảm chưa được giải quyết. Tuy nhiên, đối với những bậc giác ngộ lâm phàm để giúp đỡ chúng sinh thì khác. Những bậc giác ngộ này không có những vấn đề tình cảm như người thường. Để phân biệt sự điều này có thể dựa vào việc người giác ngộ đồng hóa với Cái Tôi Cao Hơn và nhìn nhận rằng các tình cảm chỉ là một tầng thứ của trải nghiệm con người, không tốt hơn hay tệ hơn một tầng thứ nào khác. Người giác ngộ có thể nói, "Tôi là một sinh mệnh tinh thần đầy quyền năng, sáng tạo đang trải nghiệm sự giận dữ", trong khi đó người chưa giác ngộ có thể nói, "Tôi là một người giận dữ". Người chưa giác ngộ tự nhìn nhận mình trong giới hạn sự giận dữ của mình. Đối với người này, sự giận dữ là một phần của cái tôi, và không chỉ là một trải nghiệm cần được cảm nhận, được hiểu biết và được giải phóng. Nói một cách khác, người đó đã trở nên đồng hóa với cơn giận của chính mình.

Tất cả các tình cảm liên quan đến năng lượng di chuyển qua thân thể. Những tình cảm mãnh liệt liên quan đến năng lượng mãnh liệt. Điều quan trọng là đơn gian hiểu biết về năng lượng và quan sát chúng, mà không có sự phán xét, khi nó bộc lộ ra và cái gì nằm phía sau hoặc vượt trên nó. Trong hầu hết các trường hợp, các tình cảm tiêu cực khởi phát từ niềm tin vào sự chia rẽ đang trở lại với Nguyên Nhân Nguyên ThủyCó rất nhiều những tình cảm thứ phát có vẻ như bị ẩn dấu dưới nguyên nhân gốc rễ này. 

- Những tình cảm liên quan đến thân thể vật lý như lo lắng cho sự an toàn của nó, hài lòng hay bất bình với cái nhìn, đánh giá của người khác về thân thể vật lý của mình... cần được hiểu rõ và hóa giải. Thân thể có trí thông minh được gắn liền với nó. Nó cảm nhận sự nguy hiểm nhanh hơn trí thông minh. Nếu các tình cảm được hàn gắn, thì những cảm giác siêu linh rất sắc bén và sẽ báo động về khả năng của điều nguy hiểm thực sự. Hầu hết nỗi sợ khởi phát không phải từ mối nguy hiểm thực sự, mà từ những khuôn mẫu tình cảm xưa cũ đã kích thích phản ứng tranh đấu hoặc phản ứng không thực tế trong sinh vật con người.

Khi hàn gắn các tình cảm, điều quan trọng là trở thành một nhà khoa học thực thụ. Khảo sát các cảm xúc. Tìm ra cái gì đang điều hành chúng. Quan sát cách chúng di chuyển trong cơ thể. Cái gì kích hoạt chúng? Cái gì là mối liên hệ giữa thân thể, tâm trí và các tình cảm? Hệ thống niềm tin nào đang dính líu vào?. Bên cạnh đó, giây phút mà một tình cảm tiêu cực khởi phát, hãy kêu gọi Cái Tôi Cao Hơn của mình giúp đỡ mình hiểu được tình cảm đó. Hãy là nó. Trở thành một với nó. Yêu nó. Sau đó để nó ra đi và trở lại với Cái Tôi Thực Sự của các bạn.

8.3) Thể trí

- Danh sách các ý nghĩ tiêu cực sinh ra từ các niềm tin tiêu cực mà cốt lõi xuất phát chủ yếu từ Nguyên Nhân Nguyên Thủy là:

Tôi không đủ tốt.

+ Tôi không có giá trị.

+ Tôi không xứng đáng có được hạnh phúc (hoặc có được tình yêu, hoặc sự sung túc).

+ Một điều gì đấy với tôi là sai trái.

+ Tôi không an toàn.

+ Thế giới không an toàn.

+ Cuộc đời là tranh đấu.

+ Cuộc sống là một sự thất vọng.

+ Không có đủ.

+ Tôi không thể có được cái mà tôi thực sự muốn trong cuộc đời. 

Tâm trí có 3 thành phần: tiềm thức, ý thức và siêu ý thức. Tiềm thức chứa tất cả những trải nghiệm gọi là ký ức. Nó cũng chịu trách nhiệm cho những chức năng tự trị khác nhau (những thứ thân thể các bạn làm mà không cần sự tham dự của ý thức, như là tim đập hay tuần hoàn máu). Siêu ý thức nhận các thông điệp từ các chiều kích cao hơn và chuyển dịch chúng vào tâm trí có ý thức. Tâm trí với ý thức nhận thông tin từ tiềm thức và siêu ý thức một cách liên tục, nhưng chỉ có thể lọc và xử lý một phần nhỏ của thông tin tại một thời điểm nào đó. Những niềm tin cốt lõi tiêu cực được nhúng sâu vào tiềm thức của hầu hết linh hồn con người.

- Để hàn gắn các khuôn mẫu năng lượng tiêu cực này của tâm trí, hãy đặt các câu hỏi sau: Cái Tôi Cao Hơn của tôi sẽ làm gì trong hoàn cảnh này? Cái Tôi Cao Hơn của tôi sẽ phản ứng thế nào? Nếu tôi biết rằng tôi là một sinh mênh tinh thần đầy quyền năng, sáng tạo, thì tôi sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?.

- Bên cạnh đó, có thể sử dụng kỹ thuật tái lập trình tiềm thức bằng cách lặp đi lặp lại các suy ý nghĩ sau để đưa các niềm tin tích cực vào thay thế các niềm tin tiêu cực cốt lõi trong tiềm thức:

Tôi là người xinh đẹp, có năng lực và đáng yêu.

+ Tôi là toàn bộ và trọn vẹn.

+ Tôi là một sinh mệnh tinh thần đầy quyền năng, sáng tạo.

+ Tôi yêu tất cả mọi thứ về mình.

+ Tôi xứng đáng được hạnh phúc, mạnh khỏe và sung túc.

+ Tôi an toàn trong Cái Tôi Cao Hơn của tôi.

+ Tôi sống trong một vũ trụ dư thừa.

Có đủ tình yêu cho tất cả mọi người, bao gồm cả tôi.

+ Tôi sẽ làm cái mà tôi yêu thích và có được thu nhập tốt từ việc làm đó. 

8.4) Thể astral

- Thân thể astral khác biệt với thân thể ether. Nghĩ rằng cảnh giới astral có sự tương đồng đại thể về rung động với cảnh giới vật lý, nhưng với các khía cạnh bên trên và bên dưới rung động vật lý. Thân thể ether, mặt khác, rung động cao hơn thể vật lý.

Thân thể astral nhìn giống hệ thống các sợi cáp quang, đang túa ra theo tất cả các hướng từ thân thể vật lý và kết nối với tất cả các dạng sống khác trong vũ trụ. Nhìn vào thân thể astral là bằng chứng rằng chúng ta tất cả được kết nối với nhau. Điều này vừa là một phúc lành và vừa là một tai ương, bởi vì nó có nghĩa rằng các sinh mệnh được kết nối với tất cả những sinh mệnh vĩ đại của Sự Sáng Tạo, nhưng nó cũng có nghĩa là các sinh mệnh này cũng được kết nối với tư tưởng đen tối nhất trong Sự Sáng Tạo.

Có rất nhiều cảnh giới phụ bên trong chiều kích của thân thể astral. Một trong những cảnh giới phụ này là mơ ngủ. Mặc dầu phần lớn những giấc mơ thuộc về thể trí và chỉ là những trường hợp của tiềm thức đang "tái chế", hoặc đang lý giải các vấn đề hàng ngày bởi tiềm thức trong trạng thái ngủ, một lượng đáng kể các giấc mơ liên quan đến việc du hành astral.

Cái tôi astral có khả năng kết nối với các sinh mệnh astral khác trong trạng thái mơ, và trong thực tế, một người nào đó và một người bạn thân hay một thành viên gia đình thân thiết của họ có thể chia sẻ các giấc mơ của nhau cũng như thăm viếng nhau trong giấc mơ. Các thế giới astral tương tự với các thế giới vật lý trong nhiều khía cạnh nhưng thời gian có thể được kéo dài hoặc được co ngắn lại so với thế giới vật lý. Thể astral cũng có thể kết nối với một người nào đó giống với những người hướng dẫn tinh thần của người đó. Do đó, cần nhận diện được đâu là thể astral, đâu là những người hướng dẫn tinh thần khác.

8.5) Thể ether

Cũng được gọi là "thể điện" hay "thân thể điện từ", tầng thứ ether của cái tôi bao gồm thể aura, các luân xa và các kinh mạch, các điểm tập trung năng lượng được định vị khắp cơ thể vật lý. Không giống với thân thể astral, tầng thứ ether là cố định ở một tần số cao hơn thân thể vật lý. Trong khi các màu sắc của cảnh giới astral có thể xuất hiện lộn xộn và sặc sỡ, các màu sắc của cảnh giới ether có xu hướng giống các bức tranh dịu nhẹ. Thân thể ether chứa một bản thiết kế (bluprint) của thân thể vật lý. Nhiều tình trạng vật lý, như là ốm đau, xuất phát từ bản thiết kế trong thân thể ether và sau đó xuất hiện ở thân thể vật lý.

- Khi trạng thái tư tưởng mật độ 5 trong thể vật lý của một người hợp nhất với thể ether của người đó thì thân thể vật lý sau đó sẽ chuyển đổi sang trạng thái bất tử, trơ với các tác nhân đến từ bên ngoài cũng như bên trong của người đó. Khi một người trực tiếp tiến hóa vào các cảnh giới ether, thân thể vật lý của người đó sẽ có một cấu trúc tinh thể, phát sáng. Đây chính là "thân thể tinh thể ánh sáng ether". 

Trước khi thân thể tinh thể ánh sáng có thể được hình thành đầy đủ, phải có sẵn một sự hợp nhất giữa các tầng thứ khác nhau của linh hồn. Các tầng thứ vật lý, tình cảm, trí và astral phải hầu như được hàn gắn một cách hoàn toàn. Bản thiết kế ether của một người cũng cần phải thay đổi sao cho phù hợp để có đạt được sự hợp nhất tất cả các thể này.

- Có rất nhiều kỹ thuật cho việc thay đổi bản thiết kế ether của linh hồn. Ngay khi bản thiết kế linh hồn được tái lập trình vì sức khỏe và sinh khí, nó không cần nhiều thời gian để thân thể vật lý phản ứng lại. Đây là lý do vì sao các kỹ thuật hàn gắn năng lượng, như là Reiki, Tái Kết Nối và bấm huyệt, là rất hiệu quả khi được áp dụng một cách hợp lý. 

- Thân thể ether mất cân bằng do bởi những chấn động tự đời sống này hoặc từ đời sống quá khứ. Những trải nghiệm mãnh liệt, gồm các tai nạn, sự lạm dụng tình dục, tra tấn, các hành động bạo lực, và những thứ tương tự, có thể khắc sâu vào thân thể ether như là các "dấu ấn", cuối cùng tác động lên tất cả các thân thể thấp hơn khác. Do đó, nhiều kỹ thuật được thiết kế để hàn gắn các tình cảm và tâm trí cũng là thích hợp cho việc hàn gắn thân thể ether. Những kỹ thuật này gồm làm sạch thể aura, cân bằng luân xa, rebirthing, phép chữa bệnh tâm lý, năng lượng sinh học, tiếp xúc lượng tử, hàn gắn theta, và các kỹ thuật khác.

8.6) Thể Nhân Quả

- Thể nhân quả có một mối quan hệ với các thân thể khác, có nghĩa rằng bất cứ cái gì được định hình bên trong trường năng lượng của nó đều tác động lên tất cả các thân thể khác. Điều này giải thích tại sao có rất nhiều những đau ốm không giải thích được và chưa chữa trị được trên Trái Đất. Khi có một sự mất cân bằng trong thân thể nhân quả, nó thể hiện ra trên các thân thể khác. Các nhà trị liệu và các nhà hàn gắn thường tìm kiếm nguyên nhân của vấn đề trong một thân thể khác mà không đề cập đến nguyên nhân gốc rễ của vấn đề nằm ở đâu đó.

Thân thể nhân quả là một phần của linh hồn mà mang những ký ức của các đời sống quá khứ, nghiệp, những thỏa thuận linh hồn và những giao ước linh hồn, cũng như các dấu ấn khác, các sự cấy ghép và các khuôn mẫu năng lượng khác. Một phần đáng kể của sự hàn gắn của hầu hết các linh hồn liên quan đến việc giải quyết nghiệp và các vấn đề đời sống quá khứ. Nghiệp có thể được phát biểu là sự kết hợp của nguyên nhân và kết quả, cũng có thể được phát biểu dưới dạng tương quan năng lượng như sau "Năng lượng phóng ra và bức xạ ra từ sinh mệnh của mình xác định năng lượng sẽ quay lại với chính mình.". Ví dụ, nếu một người gửi đi sự giận dữ, nó có thể biểu hiện như sự đau ốm trong thân thể, hoặc một sự thiếu tin tưởng nói chung của mọi người, đưa đến những quyết định sai lầm trong kinh doanh, hay một điều gì đó của người đó. Bên cạnh đó, nghiệp có một khía cạnh khác là ý tưởng rằng các linh hồn khao khát học những bài học nào đó khi họ đi qua quá trình tái sinh của mình. Nếu một bài học cụ thể có vẻ như mất nhiều thời gian để học hơn cả cuộc đời của thân thể vật lý, thì bài học đó sẽ được học lại trong các đời sống tiếp theo. Cuối cùng, nghiệp, hoặc vấn đề chưa được hoàn thành, có thể được đo lường như là số lượng trải nghiệm linh hồn cần được tha thứ. Một người với rất nhiều nghiệp chưa được giải quyết sẽ có xu hướng có rất nhiều sự oán giận và sự bất bình đang trở lại từ nhiều đời sống trước kia. Một linh hồn như vậy có thể giữ lặp đi lặp lại cùng các khuôn mẫu phá hủy hết lần này đến lần khác, nhưng đang chờ đợi các kết quả khác biệt. 

- Các phương pháp để hàn gắn thể nhân quả bao gồm truy ngược lại đời sống quá khứ, phục hồi công việc linh hồn, hàn gắn dòng thời gian, và tha thứ.

9) Sự chết đi của thân thể vật lý và sự hợp nhất của linh hồn 

Khi một người có thể vật lý chết đi, điều xảy sau đó đối với người đó phụ thuộc rất nhiều vào:

- Trạng thái tư tưởng của người này đối với cái chết cũng như vài yếu tố khác liên quan đến đời sống hiện tại của người này. Linh hồn phân mảnh vào nhiều tầng thứ và nhiều chiều kích không gian và thời gian. Trong quá trình chết, phần hồn rời khỏi thân thể và có thể trở lại với phần hồn "cha mẹ" của linh hồn đang cư trú trong các cảnh giới cao hơn. Tuy nhiên, nếu có rất nhiều chấn động tình cảm, tâm trí và astral, một số mảnh hồn có thể lang thang và bối rối trong các vương quốc astral. Những mảnh hồn như vậy có thể xuất hiện như những con ma, những con yêu tinh hay những con quỷ và thường cư ngụ ở nơi mà phần hồn đó thường ở khi đang sống. Nếu có nhiều mối quan hệ chưa được giải quyết, những mảnh hồn đó có thể đến thăm những người có mối quan hệ với nó.

- Phần hồn cha mẹ đã hiện diện bao nhiêu trong thân thể vật lý trước khi chết. Các linh hồn bị phân mảnh mạnh trong cuộc sống có xu hướng giữ sự phân mảnh sau khi chết. Trong thực tế, chỉ một mảnh nhỏ của toàn bộ năng lượng linh hồn là hiện diện trong thân thể vật lý. Một lượng nào đó của sự hiện diện linh hồn là cần thiết trên Trái Đất nhằm để giữ thân thể vật lý sống được. Khi một linh hồn tái sinh trên Trái Đất, một phần đáng kể của linh hồn giữ lại trong các vương quốc cao hơn như một người hướng dẫn và người cố vấn đối với phần của linh hồn đang trải nghiệm thân thể vật lý. Phần linh hồn cha mẹ về đại thể tương đương với Cái Tôi Cao Hơn và, đối với hầu hết các mục tiêu thực tiễn, có thể xem nó là Cái Tôi Cao Hơn. Từ một quan điểm kỹ thuật, Cái Tôi Cao Hơn và phần hồn cha mẹ không phải là một. Phần hồn cha mẹ là khía cạnh của cái tôi mật độ 7 giữ tách rời khỏi Trái Đất, trong khi đó Cái Tôi Cao Hơn bao gồm các tầng thứ từ 8 đến 12 của Cái Tôi tổng thể.

Khi một linh hồn tái sinh trên Trái Đất, một phần đáng kể của linh hồn giữ lại trong các vương quốc cao hơn như một người hướng dẫn và người cố vấn đối với phần của linh hồn đang trải nghiệm thân thể vật lý. Phần linh hồn cha mẹ về đại thể tương đương với Cái Tôi Cao Hơn và, đối với hầu hết các mục tiêu thực tiễn, có thể xem nó là Cái Tôi Cao Hơn. Từ một quan điểm kỹ thuật, Cái Tôi Cao Hơn và phần hồn cha mẹ không phải là một. Phần hồn cha mẹ là khía cạnh của cái tôi mật độ 7 giữ tách rời khỏi Trái Đất, trong khi đó Cái Tôi Cao Hơn bao gồm các tầng thứ từ 8 đến 12 của Cái Tôi tổng thể. Khi phần đang tái sinh của linh hồn không thể hay không muốn đi vào thân thể, một vài triệu chứng có thể xuất hiện, bao gồm chứng động kinh, tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ, chậm phát triển thể chất,... Những linh hồn phân mảnh có thể, thông qua các quá trình khác nhau, tích lũy những mảnh nhỏ và hợp nhất chúng vào phần chính của linh hồn đang trải nghiệm Trái Đất. Quá trình này được gọi là "sự hồi phục linh hồn". Mặc dầu về mặt kỹ thuật phần hồn cha mẹ giữ ở lại trong các vương quốc cao hơn, các khía cạnh trên Trái đất của linh hồn có thể hợp nhất với phần hồn cha mẹ và đạt được sự hợp nhất hoàn toàn trong khi đang sống trên Trái đất.

Để một con người bằng xương bằng thịt sống trên Trái Đất, cần phải có một tỷ lệ nào đó của toàn bộ năng lượng linh hồn hiện diện trong thân thể. Càng có nhiều năng lượng linh hồn trong thân thể, thì thân thể càng có nhiều sức khỏe và sinh khí và linh hồn sẽ càng thành công khi đối mặt với các thách thức của cuộc sống Trái Đất.

- Ngay khi những mảnh của linh hồn bắt đầu trở lại với phần hồn cha mẹ trong các vương quốc cao hơn, thân thể bắt đầu khô héo và chết. Điều này giải thích tại sao rất nhiều những người già đang trải nghiệm tình trạng sức khỏe tàn tạ bắt đầu thấy các viễn cảnh về thế giới khác, thường là về những người thân yêu đã mất của họ. Những người già khao khát hội ngộ với những người họ hàng và bạn bè đã rời Trái Đất của họ, và điều này thúc đẩy việc ra đi của những người già. Một nguyên nhân khác nữa là những cặp đôi người già đã gắn kết với nhau trong một thời gian dài ở trên Trái Đất, những cặp đôi như vậy trao đổi các mảnh hồn qua lại với nhau, và khi một người chết, nhiều những mảnh hồn của người kia ra đi cùng với anh ta hay cô ta. Điều này làm suy tàn sinh lực sống của người còn lại và thường gây ra sự suy tàn nhanh chóng cho sức khỏe của người còn lại.

Những cái chết bất ngờ là trở ngại khó khăn nhất từ quan điểm của sự hợp nhất linh hồn. Mặc dầu phần hồn cha mẹ của linh hồn có thể thường xuyên thấy được một cái chết không mong đợi, nhân tính (bản ngã) hiếm khi làm được điều đó. Do đó, trong một cái chết bất ngờ, những mảnh hồn lớn có thể chia tách ra và đi theo những hướng khác nhau, phụ thuộc vào cách thức chết. Khía cạnh của linh hồn được nhúng trong nhân tính (bản ngã) không thích sự thay đổi đột ngột và có thể có một thời gian rất khó khăn để giải quyết với cái đã xảy ra. Do đó, không phải là hiếm gặp đối với vài mảnh hồn lớn của một người như vậy đi lang thang khắp Trái Đất trong nhiều tháng, và đôi khi là nhiều năm, tìm kiếm phần hồn cha mẹ. Nó là hữu ích, khi một ai đó đã chết một cách bạo lực hoặc chết đột ngột, cố gắng kết nối với những mảnh hồn đã mất này và gửi chúng vào Ánh Sáng.

Thông thường, một linh hồn không thể tái sinh cho đến khi có đủ một số lượng các mảnh hồn quay trở lại với phần hồn cha mẹ trong các vương quốc cao hơn. Tuy nhiên, trong các vùng astral hỗn loạn xung quang Trái Đất, dường như luôn luôn có những ngoại lệ. Những linh hồn cố gắng tái sinh trong khi vẫn đang ở trong một trạng thái phân mảnh cao có thể trở lại với rất nhiều vấn đề tình cảm và tâm lý mà dường như có rất ít điều để làm với cái mà linh hồn đã được dạy dỗ trong cuộc đời này. Nếu linh hồn rời khỏi Trái Đất thông qua một tai nạn trong đời sống quá khứ, thì sau khi tái sinh người ấy có thể hay bị tai nạn và liên tục gặp bất hạnh. Điều này là bởi sự kiện tai nạn ban đầu đã chưa được hàn gắn và phần hồn cha mẹ liên tục mang điều này vào sự chú ý của mảnh hồn đã tái sinh. Phần cha mẹ của linh hồn trong các vương quốc cao hơn có kiến thức và sự sáng suốt rất lớn, nhưng hiểu biết này không được hoàn thiện. Phần hồn cha mẹ không thể thấy trước tất cả các khúc quanh và các lối rẽ có thể có trong cuộc đời mở rộng của nó trên Trái đất. Mặc dầu nó có thể đưa ra rất nhiều sự giúp đỡ và sự ủng hộ đối với các phần hồn trên Trái Đất, sẽ có rất nhiều trường hợp nơi mà nó không thể đưa ra nhiều sự giúp đỡ. Đây là một trong các lý do tại sao lại có nhiều tầng thứ của những người hướng dẫn tình thần và những người trợ giúp.

Nó chung, các linh hồn rời khỏi Trái Đất sẽ đến những nơi có một rung động tương tự với cái mà linh hồn đó đã trải nghiệm trên Trái Đất, dưới dạng trạng thái của tư tưởng. Nói cách khác, một linh hồn tốt bụng và yêu thương sẽ đến một vương quốc tốt đẹp và yêu thương giữa các đời sống. Hoặc đúng hơn là, phần hồn đã rời Trái Đất nhờ vào cái chết của thể xác sẽ hợp nhất với phần hồn cha mẹ trong một vương quốc yêu thương.

- Nếu có một lượng rất lớn những tiêu cực trong linh hồn rời đi, những mảnh hồn đã rời đi có thể có khó khăn trong việc hợp nhất với phần hồn cha mẹ. Những mảnh hồn này sẽ đi vào một tầng thứ của vương quốc astral thể hiện ra các khó khăn tình cảm và tâm lý mà linh hồn đã trải nghiệm trên Trái Đất. Đây là nơi xuất phát của các ý tưởng về sự chuộc tội và địa ngục. Linh hồn vẫn đang học hỏi, thậm chí khi anh ta hay cô ta không còn một thân thể vật lý nữa. 

- Phần cha mẹ của linh hồn sẽ thường xuyên làm tất cả mọi thứ mà nó có thể để hợp nhất lại với các mảnh hồn, nhưng sự hợp nhất là rất khó khăn nếu đời sống trên Trái Đất vừa trải nghiệm là khắc nghiệt, tiêu cực và đầy bạo lực. Phần hồn cha mẹ, trong những trường hợp như vậy, sẽ khao khát được tiếp tục trải nghiệm Trái Đất trong hy vọng giải quyết nhiều vấn đề. Do đó, những phần hồn đã phân mảnh có thể tự tập hợp với nhau đủ để tái sinh, nhưng vở kịch sẽ tiếp tục trong một thân thể khác. Mất tối thiểu khoảng 3 đến 5 năm Trái Đất cho một linh hồn để tái sinh sau khi rời khỏi thân thể vật lý. Nếu có rất nhiều những vấn đề chưa được giải quyết, nó có thể mất nhiều thời gian hơn. Nó là hiếm hoi cho các linh hồn để giữ trạng thái không thân xác trong hơn 20 năm nếu họ có các bài học chưa được giải quyết hay là nghiệp còn tồn đọng từ đời sống gần đây nhất.

Nếu một linh hồn đã hoàn thành cơ bản tất cả các bài học của nó trên Trái Đất và sau đó lựa chọn rời khỏi thân thể, linh hồn đó sẽ tái hợp nhất với phần hồn cha mẹ và đi vào một cảnh giới thiên thể cao hơn. Một quá trình như vậy được gọi là "thăng lên về mặt tinh thần". Trong trường hợp này, không còn có bất kỳ mảnh hồn chia tách nào lang thang đâu đó trong vũ trụ. Tất cả các mảnh đã được tập hợp lại từ tất cả các khung thời gian và tất cả các chiều kích, và linh hồn toàn bộ và đầy đủ giờ đây được tái hợp nhất vào các cảnh giới cao hơn.

- Linh hồn sau đó có lựa chọn để một lần nữa phân chia bản thân nó nhằm trở lại một thân thể vật lý, nhưng lần này là hoàn toàn tự nguyện, khi mà không còn có nghiệp nào cần phải giải quyết. Một linh hồn như vậy có thể lựa chọn trở lại Trái Đất để trợ giúp những linh hồn khác trong việc đạt được một trạng thái thăng lên. Nó bao gồm nhiều vị thầy và nhiều người chỉ đường trong thời đại hiện nay. 

- Trở lại với Trái Đất sau sự thăng lên về mặt tinh thần không đồng nghĩa với việc đảm bảo rằng sẽ không có sự phân mảnh hoặc không có nghiệp mới. Cuộc sống trên Trái Đất có thể rất khó khăn và có rất nhiều những khả năng để rơi trở lại vào tính hai mặt đối lập và bóng tối.

10) Sự tái sinh không tình nguyện

- Khi một người chưa tiến hóa đến tầng thứ mật độ 4 thì người này vẫn là đối tượng của luật Luân Hồi và do đó, người đó cần phải tái sinh để học những bài học mới hoặc chưa hoàn thành. Khi người này tiến lên mật độ 4, sẽ không còn chịu sự chi phối của luật Luân Hồi nữa và do đó, việc tái sinh lúc này là tự nguyện mà không bị ràng buộc bởi luật.

- Để có thể vượt qua luật tái sinh luân hồi, một người cần phải nhận thức rõ về sự vô minh trong vô số kiếp sống của mình, thoát ra khỏi các ảo cảnh đau khổ, chia rẽ được tạo ra từ thế giới bên ngoài và tiềm thức của mình xuất phát từ các niềm tin cốt lõi tiêu cực. Tiếp đến, người này cần phải thực hiện các hành động để cân bằng nghiệp của mình bằng cách tha thứ, những hành động thiện, tình yêu và tình thương, để dừng việc tạo thêm nghiệp và trở thành một lực lượng tích cực cho sự thay đổi trên thế giới. 

11) Sự tái sinh tình nguyện

- Một người khi đã đạt tới một điểm trong sự tiến hóa của mình nơi mà đã học được cách thăng lên về mặt tinh thần, đi vào các cảnh giới thiên thể sau khi tái sinh trên Trái đất và xác định là có hay không trở lại Trái đất một cách tình nguyện. Trong hầu hết các trường hợp, người này sẽ lựa chọn trở lại bởi vì người này nhìn thấy những người yêu dấu của mình đang chịu đựng đau khổ và đang không biết đi đâu và làm gì. Do đó, sẽ lựa chọn tái sinh để giúp mang Ánh Sáng tới một thế giới vẫn chủ yếu là bóng tối. 

- Ưu tiên hàng đầu của những người tình nguyện tái sinh trở lại trên Trái Đất là sự hợp nhất linh hồn bởi vì họ biết rằng một linh hồn toàn bộ, đầy đủ và hợp nhất là một linh hồn đầy quyền năng, đầy sáng suốt và đầy yêu thương. Họ biết rằng Ánh Sáng của mình là khổng lồ và kỳ diệu và có thể thay đổi thế giới này. 

- Rất nhiều người lựa chọn tái sinh trở lại trên Trái Đất hầu hết đã sống hàng trăm, nếu không phải là hàng nghìn đời sống trên các hành tinh khác và các chiều kích khác khắp dải Ngân Hà. Một số người trong đã có các đời sống trong các hệ thiên hà khác. Một vài người lại đang trải nghiệm đời sống đầu tiên trên Trái đất, nhưng phần lớn đã có hàng tá đời sống ở đây, gồm cả việc sống vào lúc kết thúc các nền văn minh chính như là Atlantis và Lemuria. DNA của họ là một tập hợp của tất cả mọi nơi mà họ đã ở như một linh hồn. Nó chứa đựng bên trong cái mà các nhà khoa học của các bạn gọi là DNA "thừa" là các cấu hình của Pleiades, Arcturus, Sirius, Andromeda, Orion, và nhiều hệ thống sao khác.

12) Sự thăng lên về mặt tinh thần

- Sự thăng lên về mặt tinh thần xuất hiện khi một người đã hoàn thành các bài học linh hồn trên Trái đất và quyết định từ bỏ thân thể và đi vào các vương quốc cao hơn. Ngay khi thoát khỏi hành tinh Trái Đất, người đó có sự lựa chọn để hoặc là tái sinh một cách tình nguyện, hoặc giữ trong trạng thái lìa khỏi xác và phụng sự như một người hướng dẫn tinh thần cho các linh hồn khác, hoặc là tiếp tục sự tiến hóa của mình vào các chiều kích cao hơn.

Ngoài ra sau khi thăng lên về mặt tinh thần, một người có thể lựa chọn tái sinh trên một hành tinh khác đang rung động ở một mật độ cao hơn, trong trường hợp đó người này có thể sản xuất một thân thể, hoặc đi vào một dạng hình đang tồn tại thông qua một quá trình được biết đến là "nhập xác". Bởi vì linh hồn ở dạng lỏng, linh động, và có khả năng phân chia vào nhiều phần. Do đó, người đó có thể lựa chọn một sự kết hợp của những lựa chọn này. Một phần của linh hồn người này có thể lựa chọn trở thành một người hướng dẫn tinh thần đối với một linh hồn đang vật lộn trên Trái Đất, trong khi đó một phần khác có thể chọn tái sinh vào một thế giới mật độ 5 trong hệ thống sao Arcturus. Có lẽ một phần thứ ba sẽ sử dụng thời gian trong các vương quốc cao hơn với các thành viên của gia đình hồn của người đó.

Bên cạnh đó, sau khi thăng lên về mặt tinh thần, một người có thể lựa chọn giữ tất cả các phần của mình ở cùng nhau và trở nên một sinh mệnh có chủ quyền ở chiều kích cao hơn. Như là một vị thầy đã thăng lên trong các cảnh giới thiên thể. Điều này cung cấp cho người này cơ hội để trợ giúp nhiều linh hồn trong nhiều thực tại, nhiều tầng thứ, nhiều cảnh giới và nhiều chiều kích khác nhau một cách đồng thời.

Trong các trường hợp hiếm hoi, các sinh mệnh đã thăng lên sẽ tái sinh một cách tình nguyện vào Trái đất với toàn bộ sinh mệnh nguyên vẹn của họ, nhằm tham dự một sự kiện lớn hơn tác động đến sự thức tỉnh của các linh hồn trên Trái đất. Những sinh mệnh như vậy thường trở thành những danh nhân và những nhà tiên tri của một thời đại đã được định sẵn trên Trái Đất.

13) Sự thăng lên về mặt vật lý

- Bởi vì sự An Bài Thần Thánh hiện tại nên hiện tại có thể cho hàng triệu linh hồn tiến hóa di chuyển một cách trực tiếp vào Ánh Sáng mà không trải qua cái chết. Một thuận lợi của phương thức thăng lên này là một người có thể tiếp tục giao tiếp với các sinh mệnh của Trái Đất, nhưng không còn bị giới hạn bởi các luật của Trái Đất. Một thuận lợi khác là người đó không cần phải đầu thai để tái trải nghiệm Trái Đất.

Nhằm để thăng lên về mặt vật lý, một người cần có hầu hết, nếu không phải là tất cả, những mảnh hồn được hợp nhất. Linh hồn cha mẹ của người đó cũng cần được nhúng vào thân thể vật lý đến mức đủ để phục hồi lại các hệ thống của thân thể nhanh hơn tốc độ suy tàn do bởi định luật thứ hai của nhiệt động lực học.

Nếu một người tập trung vào việc mang các tần số cao hơn vào thân thể của mình và tái nạp nó một cách liên tục, người đó sẽ thu hút những kỹ thuật, những phương pháp, những buổi hội thảo và những người vào cuộc đời mà sẽ thúc đẩy quá trình thăng lên của mình.