Monday, May 16, 2011

Trích Dẫn Chơn Lý Tổ Sư Minh Đăng Quang

Trích Dẫn Chơn Lý Tổ Sư Minh Đăng Quang
Tin tức Phật giáo
Trích Dẫn Chơn Lý Tổ Sư Minh Đăng Quang

Dưới đây là những lời dạy của Tổ Sư Minh Đăng Quang được rút ra từ những bài Chơn Lý trong bộ Chơn Lý 69 cuốn của Tổ sư.
TRÍCH TINH HOA GIÁO LÝ

1. Người mà giác ngộ chơn lý, mới biết đường đi, đi tới cảnh cao siêu tốt đẹp của tâm hồn, vĩnh viễn, chắc thiệt, yên vui; mới gọi ta, của ta, mới có lý nghĩa, mới là ích lợi. Hết mê lầm. Không loạn vọng. Không sở chấp chi nữa hết.
Chơn Lý VŨ TRỤ QUAN 2. Vui đạo lý vĩnh viễn hơn vui thiện. Vui thiện nhẹ cao hơn vui ác. Vui ác, vui vật chất là gốc khổ sầu tai họa.
Chơn Lý NGŨ UẨN 3. Người là lòng thương yêu gia đình. Trời là lòng thương yêu xã hội. Phật là lòng thương xót cả chúng sanh. Các bậc ấy thảy quên mình mà biết lo cho kẻ khác, nên muôn loại thảy kính vì.
Chơn Lý THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN4. Quan hệ nhất là chữ ái chia tẽ hai đường: Người đứng trên chữ ái là Chư Phật, kẻ nằm dưới chữ ái là chúng sanh. Điều đó đáng cho chúng ta thận trọng!
Chơn Lý Thập Nhị Nhân Duyên5. Người tà kiến thì đi sâu vào trong chốn khổ mịt mờ đen tối, nếu quay trở lại chánh kiến tức nhiên giải thoát, xán lạn vui tươi.
Chơn Lý BÁT CHÁNH ĐẠO 6. Đạo chánh là bởi thiện lành, không ác quấy. Ấn chứng của đạo là sự vui tươi, không khổ nhọc.
Chơn Lý BÁT CHÁNH ĐẠO7. Có giữ giới vạn vật mới tốt đẹp, có thiền định chúng sanh mới sống đời. Có trí huệ các pháp mới trọn lành trong sạch.
Chơn Lý CÓ VÀ KHÔNG8. Trong thế gian, bằng không có sự vô thường, ẩn hiện, tương đối thì không bao giờ có cái thường và tuyệt đối. Nếu không có thường và tuyệt đối, thì chúng sanh chẳng bao giờ được hạnh phúc kết quả tốt đẹp tối cao. Vậy nên vô thường tương đối là tiến hóa, là không khổ, là có, là sống đời đời, là thiện, là huệ, là chơn.
Chơn Lý CÓ VÀ KHÔNG9. Có để đặng chơn như, không để đặng chơn như, trung để đặng chơn như, chấp gồm ba pháp để đến chơn như không chấp cũng chơn như. Chơn như mới thiệt là có, chơn như mới thiệt là không, chơn như mới thiệt là ta, là Phật. Vậy ta chỉ cần biết chơn như là đủ.
Chơn Lý CÓ VÀ KHÔNG10. Kẻ giác ngộ chơn như rồi, thì giải thoát ra khỏi tất cả sở chấp không còn giả vọng nên gọi là chơn như toàn giác trọn sáng trọn lành.
Chơn Lý CÓ VÀ KHÔNG11. Pháp bảo là thầy của Phật, là thầy của Tăng và chúng sanh. Vậy nên chúng ta mau mở trí ra mà chứa đựng Pháp bảo. Vì trong đời Pháp bảo là quý hơn hơn hết.
Chơn Lý CÓ VÀ KHÔNG12. Kẻ thiện lành dầu câm cũng biết nói, nói lời lành ai cũng mến. Kẻ ác dầu học giỏi cũng như câm, vì nói chẳng ai nghe.
Chơn Lý SANH VÀ TỬ13. Lòng thương có hai cách: thương mà được yên vui cứu khổ cho nhau hay thương mà rối khổ vì nhau, để giết hại lẫn nhau về sau; hay là cái thương tâng hót bên ngoài xác thịt giả dối và cái thương chắc thật vĩnh viễn trong tâm hồn. Đức Pgật khi xưa có dạy rằng: Lòng thương phải có, mà dục vọng thì đừng. Ấy vậy cái thương đây quý báu tốt đẹp biết bao nhiêu.
Chơn Lý NAM VÀ NỮ14. Lòng thương có cao có thấp, có sạch, có dơ, có trúng, có trật. Thương ngay thẳng là đến Niết Bàn sống mãi, thương tà vạy là sa địa ngục diệt vong.
Chơn Lý NAM VÀ NỮ15. Than ôi! Đồ vật giết người, mà nào phải nó ác, ác là tại người, người giết người, chớ ai vào đó mà giết người; Người chết là tại vật chất của cải: chính ta tạo ra có nó, để nó giết ta; vậy kẻ muốn sống yên vui, há đi nắm lấy nó, tự đâm chém chôn mình sao?
Chơn Lý CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC16. Tinh thần không là con ma, xác thịt không là khúc gỗ; làm để ăn, lành để sống, nào ai có ăn mà không sống, nào ai có sống mà không ăn? Ăn và sống phải dung hòa cần thiết mới được.
Chơn Lý CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC 17. Tài thí pháp thí dung hòa nuôi đạo, là phận sự của tất cả, đừng ai chia xẻ mà bị đau đớn, và phải biết kính trọng đạo. Vậy nên Tăng không xin, mà tự cư gia phải lo bố thí, cư gia không hỏi mà tự Tăng phải tìm dạy.
Chơn Lý CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC18. Ấy vậy chúng ta nên hiểu rằng: Người tội sanh pháp luật chớ không phải pháp luật sanh người tội. Pháp luật cai trị kẻ ác chớ không phải áp chế người hiền. Luật pháp để đem người ác đến chỗ hiền. Muốn cho người hiền và kẻ hiền rồi thì phải lo tu học, tìm hiểu công lý lẽ thật, đặng đến chỗ yên vui cực lạc, chớ khá tự cao đứng hoài mỏi cẳng, sa ngã té rớt xuống hố ác khốn họa không nên vậy.
Cách ngôn: Công lý hơn pháp luật!
Chơn Lý CÔNG LÝ VŨ TRỤ 19. Biết quý báu hơn không biết, có biết mới hết mê lầm chấp trật, khổ sở nạn tai … Chính biết là ta, là mục đích của chúng sanh, là chơn lý của cuộc đời, là tinh ba của vũ trụ.
Chơn Lý KHẤT SĨ20. Nếu tham sân si không diệt, thì người ta với cỏ cây thú có khác chi nhau.
Chơn Lý KHẤT SĨ21. Người mà không học như mù đôi mắt, như xác chết không hồn, dầu mà có bị lửa đốt co ngoe, cử động như nói, như ăn, như đi, như làm đi nữa, thì kẻ ấy có khác nào hình đất, khúc cây, nào có biết chi vui hay mùi vị của cái sống.
Chơn Lý KHẤT SĨ22. Nếu ta sống có ích lợi cho người, thì người khác họ cũng sẽ sống có ích lợi lại cho ta.
Chơn Lý Y BÁT CHƠN TRUYỀN
23. Giới luật là y bát là Khất Sĩ. Khất sĩ là định huệ. Nếu khất sĩ không có tu về định huệ dầu mà có trì giới không đi nữa, cũng chưa gọi được trọn là Khất Sĩ.
Chơn Lý Y BÁT CHƠN TRUYỀN24. Thà chết trong sạch yên vui, hơn là sống nhơ bẩn rối khổ. Còn bằng chúng ta tham sống sợ chết, thì cũng nên lựa lấy món ăn nào ít tội ác một chút mà ăn, chẳng là bớt rối khổ được yên vui dễ chịu.
Chơn Lý ĂN CHAY25. Người có định thì thân khẩu ý mới trong sạch, tuy ít nói mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhớ mà nhớ phải, là được kết quả yên vui biết bao nhiêu!
Chơn Lý NHẬP ĐỊNH26. Sự tu hành cũng như ăn cơm để sống, điều ấy vốn không mau chậm, hay là đường quanh nẻo tắt gì cả. Vậy nên chúng ta hãy nên chậm rãi mà đi.
Chơn Lý NHẬP ĐỊNH27. Con người nếu làm được cái khó, cái hơn người, cái tiến hóa, thì mới được gọi là bậc siêu nhân.
Chơn Lý NHẬP ĐỊNH28. Hơn thì chớ chắc hơn, kém thì nên gọi kém. Vậy mỗi ai nấy lo tu học, chẳn là hay hơn hết, dòm ngó nhau mà làm gì.
Chơn Lý CƯ SĨ29. Chẳng phải là sự học giỏi thông minh mà thành công. Người ta dầu học bực nào, nhưng nếu ác, thì oan trái nặng nề, bắt buộc phá hại, đốc xúi kéo lôi, dễ gì tự chủ mà hòng làm nên kết quả.
Chơn Lý CƯ SĨ30. Bước chân vào cõi đời gian nguy, người cư sĩ phải cần đem theo giới định huệ. Vì không thể nào với cái tham sân si mà được sống đời nên công kết quả cho được.
Chơn LÝ CƯ SĨ31. Hôt giống thú là: thân, khẩu, ý ác.
Hột giống người là: thân, khẩu, ý nhơn.
Hột giống Trời là: thân, khẩu, ý thiện.
Hột giống Phật là: thân, khẩu, ý chơn.
Chơn Lý TÂM


32. Người chân thật ai cũng kính yêu.
Kẻ vọng giả nhiều người khinh bỉ.
Chơn Lý TÂM33. Người ta thường tắm mưa, nước rớt trên đầu không sao, chớ đất rớt trên đầu thì ai cũng phải bị hại. Cũng giống như vậy, lời đạo đức từ trên dạy xuống thì ai cũng nên, lời ác trược đè dạy thì ai cũng phải khốn lụy.
Chơn Lý TÁNH THỦY34. Một kiếp tu hành, ngàn đời rãnh khổ; một thời ngộ đạo, vạn thuở an vui.
Chơn Lý HỌC CHƠN LÝ35. Chơn lý như mặt trời, pháp lý như đèn sao, thế sự như hang tối. Vậy nên cái học của chúng ta là học chơn lý, thấu chơn lý mới gọi là bậc thạt học.
Chơn Lý HỌC CHƠN LÝ36. Tất cả các pháp là để đến với Hoa Nghiêm.
Tất cả giáo lý là để đến với chơn như.
Tất cả sự học là để đến với chơn lý.
Chơn Lý HỌC CHƠN LÝ37. Lời nói của người tu, ví như hoa sen, việc làm của người tu, ví như lá sen, ý niệm của người tu, ví như gương sen, cả thảy các pháp đều ở trên cao, không trung, và không còn phải ô nhiễm nước bùn theo thế sự.
Chơn Lý TRÊN MẶT NƯỚC38. Pháp tự nó vốn đâu có hưng hay mạt mà mạt là chỉ tại nơi người làm mạt đó thôi!.. Người tà chớ đâu phải đạo không chánh, người mạt chớ đâu phải pháp không hưng.
Chơn Lý CHÁNH PHÁP39. Lúc đắc đạo cũng như lúc mới phát tâm cầu đạo, sự cố gắng tinh tấn là kết quả.
Chơn Lý CHÁNH PHÁP40. Cúng tế để biết khiêm nhường kẻ chết, đặng không ngang bạo giết hại người sống, mang ơn mến đức mà thờ, nghe dạy là lạy, biết kỷ niệm lịch sử mà giữ mình, có như thế mới tập tánh nên người minh đức.
Chơn Lý CHÁNH KIẾN41. Cõi Niết Bàn là lòng từ bi bình đẳng, tất cả chúng sanh chung là sự trong sạch không nhơ uế, là sự sáng láng của trí tuệ, là sự im lặng của tâm chơn, chớ không phải ở đâu cả.
Chơn Lý TAM BẢO42. Ngày xưa ít học mà nên nhiều, ngày nay học nhiều mà nên ít, là bởi trọng học tài quên tu đức.
Chơn Lý TÔNG GIÁO43. Phép linh là phụ thuộc, chỉ có trí huệ, tâm chơn mới thật là của cải!
Chơn Lý THẦN MẬT44. Một cục sắt đỏ dưới nhát búa của người thợ rèn lửa văng tứ phía, cục sắt ấy bể lần. Sự phóng tâm loạn vọng làm tổn hại tâm người cũng y như thế.
Chơn Lý THẦN MẬT 45. Địa ngục vô số đếm! Tâm địa ngục nhốt trói cũng gọi là địa ngục! Cái khổ ép ngặt cũng là địa ngục! Tham sân si cũng là địa ngục! Sự ích kỷ cũng là địa ngục! Địa ngục lớn địa ngục nhỏ, tùy theo việc làm, lời nói ý niệm, giáo lý chẳng hay cùng.
Chơn Lý GIÁC NGỘ46. Cảnh giới địa ngục là sắc thân ác khổ, chết là thất bại. Cảnh giới thiên đường là thức trí thiện vui, sống và thành công. Còn cảnh giới Niết Bàn là chơn tâm tuyệt đối, bình đẳng sáng rỡ, không có chi chi cả.
Chơn Lý GIÁC NGỘ47. Tâm Niết Bàn yên hơn cảnh Niết Bàn, trí thiên đường vui hơn là cảnh thiên đường, thân địa ngục khổ hơn là cảnh địa ngục, vì cảnh ngoài dễ mau dời đổi, chớ cảnh trong thì thì khó lâu dời đổi đặng. Vì thế nên kẻ đã giác ngộ rồi, thì không chăm chú những việc bên ngoài kia nữa.
Chơn Lý GIÁC NGỘ48. Chúng ta nên biết tự mình biết ghê sợ tội lỗi, hổ thẹn tội lỗi, và dứt trừ tội lỗi của chính mình, tốt hơn là để người chế trị.
Chơn Lý GIÁC NGỘ49. Phật là người giác ngộ,
Chúng ta sớm nên giác ngộ.
Vì sự giác ngộ tâm chơn quý báu hơn cái thiện lành thức trí, và cái thiện lành thức trí cần ích hơn là sắc thân vật chất, ác quấy, tội lỗi, danh vọng, vui chơi, cái có nơi ngoài tứ đại.
Chơn Lý GIÁC NGỘ50. Người ở đời nếu không tu thì khó sống an vui, mà tu sái phaép thì lại càng khó sống an vui hơn nữa.
Chơn Lý KHUYẾN TU51. Khi chúng ta bị người đánh đập, thì chúng ta vội đánh lại họ, mà chẳng chịu tự đánh lấy cái nết hạnh xấu xa, không nghiêm chỉnh của mình.
Chơn Lý ĐI TU52. Kẻ trí trau tâm, chớ chẳng giồi thân. Nói ít mà nên. Làm ít mà hay, lo ít mà đặng, là bởi nơi tâm đã trọn tốt. Một người địa ngục tối cao quan trọng, mà tâm tánh xấu xa, thì cơ thâm họa diệt thâm, chớ có ích chi mà chúng ta vội tìm tham muốn.
Chơn Lý ĐI TU53. Tài học sao cho bằng đức hạnh. Đức hạnh mới được bền dài cao quý hơn.
Chơn Lý ĐI TU54. Hạnh phúc của ta ở nơi tâm ta; sự nghiệp của ta lớn nhỏ là tùy nơi tâm ta lớn nhỏ. Đạo quả trong ngoài, kết thành một lượt không mau không chậm
Chơn Lý ĐI TU55. Trong đời ai cũng phải ăn mà sống.
Nhưng bởi có cái sống trước.
Vậy thì muốn sống là chớ sát sanh, muốn ăn thì không nên trộm cắp.
LAST_UPDATED2

Saturday, May 7, 2011

Bố Thí Và Tử Vi

Danh từ Ðịnh Mệnh sẽ không cần thiết có trong Bách-khoa tự điển nếu như mỗi người trong chúng ta đều mang những nét đặt tính như nhau từ trong ra ngoài, một đời sống như nhau trong không gian cũng như thời gian. Sự khác biệt giữa hai người như giàu-nghèo, thiện-ác, sang-hèn, thành công-thất bại, chính-tà, tàn tật-lành lặn, hạnh phúc-bất hạnh, thông minh-đần độn, ...là những yếu tố tất yếu để danh từ Định mệnh được định nghĩa.Trong ý nghĩa đó, Tử vi được sử dụng để giải đoán định mệnh.
Nếu có Thượng đế hay Ðấng tạo hoá thì dựa vào đâu để xác định, áp đặt khi trẻ sơ sinh kia đã phải mang tật nguyền vào thân mà cho đến khi lớn khôn, hắn vẫn không hiểu tại sao hắn ta mang tàn tật vào thân ? và hắn ta cũng chẳng bao giờ được nghe qua bản phúc trình luận tội, bản kết án tật nguyền cho hắn. Chúng ta chẳng thể giải thích được hiện tượng bất công trên nếu không dựa vào một giáo lý nào đó. Khoa học nhìn qua DNA và xác xuất để giải thích hiện tượng bẩm sinh. Nhưng tại sao hắn lại rơi vào cái xác xuất không may đó? Chẳng phải ngẫu nhiên mà hắn ta rơi vào cái không may đó, cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà ta lại rơi vào cái hiện tượng không vừa ý nào đó. Mọi hiện tượng xảy ra đều có nguyên nhân của nó ví như hạt giống là nhân của cây cối, cây cối lại là nhân cho ra hạt giống, quá trình này chẳng phải tự nhiên sinh sôi nẩy nỡ mà còn tùy vào điều kiện môi trường như mưa, gío, phân bón, hay sự chăm sóc... Điều kiện tất yếu này, theo Phật Giáo thì gọi là Duyên. Con người cũng thế, theo Phật giáo thì con người kiếp hiện tại là qủa của qúa khứ và là nhân cuả kiếp tương lai.
Con người, theo Phật giáo, khi chết thì Tứ đại, ngũ uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) và Lục căn (Mắt, Mũi, Tai, Lưỡi, Thân, Ý) đều bỏ lại chỉ còn A-Lại-Da-Thức (Linh Hồn) sẽ tái sinh. A-Lại-Da-Thức mang toàn bộ bản sao chép sáu thức kia hay Nghiệp (tốt và xấu) từ kiếp trước sang kiếp sau. Tùy vào dòng Nghiệp Lực đó mà ta sẽ có sự tái sinh phù hợp với cái Nhân ta đã gieo trong qúa khứ. Và cũng chính dòng Nghiệp lực đó mà Tứ đại, ngũ uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) và Lục căn (Mắt, Mũi, Tai, Lưỡi, Thân, Ý) được tái tạo, tùy dòng nghiệp lực mà hình hài tái sinh sẽ mang trạng tướng như thế nào. Tuy nhiên Phật giáo còn chia Nghiệp ra làm 4 loại : Hiện nghiệp, Hậu nghiệp, Vô hạn định nghiệp, Vô hiệu lực nghiệp vì vậy không nhất thiết một Nhân trong qúa khứ phải là qủa trong hiện tại. (Xin tìm đọc “The Buddha and His teachings”: Ðức Phật và Phật Pháp do Phạm Kim Khách chuyển dịch - 1988).
Như vậy qua giáo lý nhà Phật, cái Định Mệnh kia thật sự chỉ là dòng Nghiệp Lực dẫn dắt ta ví như chiếc thuyền không người lái trên ghềnh thác, trên dòng sông hay trên mặt hồ yên tỉnh. Tử vi dưới mắt Nghiệp Qủa không nhìn Số Mệnh con người như là một sư việc đã được an bài, mà nhìn qua thuyết Nhân-Duyên-Qủa vì vậy cho rằng : Không một Định Mệnh nào được gọi là An Bài mà con người được dẫn dắt bởi dòng Nghiệp Lực; Nghiệp chỉ phát khi hội đủ những yếu tố Nhân duyên, như vậy Con người có thể thay đổi đươc cái định mệnh đó bằng cách gieo một Duyên Khởi để khởi động một Nghiệp tốt trong qúa khứ thay vì phải hứng chịu một Nghiệp xấu trong qúa khứ, hay là làm dịu lại Nghiệp nặng đã gieo trong những chu trình sống chết đã qua. Tuy nhiên chúng ta chẳng thể thay đổi hẳn dòng Nghiệp Lực kia mà chúng ta chỉ có thể tìm được một đời sống khả dĩ tốt nhất cho cho một dòng Nghiệp Lực nhất định. Làm thế nào để phát khởi một Nhân Duyên tốt trong qúa khứ, làm thế nào để biết dòng Nghiệp Lực kia dẫn ta về đâu ? Làm thế nào để tìm được một cuộc sống hiện tại bình an trong một Định Nghiệp hẩm hiu ?
Theo Tử Vi dưới mắt Nghiệp Qủa thì Sao Lộc Tồn là Ruộng phước và người chăm sóc thửa ruộng ấy là Sao Bác Sĩ. Sao Lộc Tồn đâu thì Sao Bác Sĩ ở đó, "Ruộng phước luôn đi theo người cho".
1- Bác Sĩ được định nghĩa là người cứu nhân độ thế, dưới một góc độ nào đó, Bác Sĩ có thể được xem là Bố Thí độ trong Phật giáo. Con người chính là con bệnh, con bệnh của dòng nghiêp lực.
Bố Thí là gì ? Trong ý niệm mộc mạc nhất là cho không, biếu không, cúng dường, tặng không.
Để thực hiện được sự Bố Thí thì phải có người cho (Ta), người nhận (Ruộng phước vì chính ở nơi họ mà ta gieo hạt giống phước đức nên gọi là ruộng phước) và vật cho (Vật bố thí).
Có hai loại ruộng phước:
1) Ruộng phước nhỏ: Vì lòng thương hại người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống thương hại sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng phước nhỏ.
2) Ruộng phước lớn: Vì có tâm kính trọng người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống kính trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là ruộng phước lớn.
Có ba loại Vật bố thí: Tài thí, Pháp thí và Vô-úy thí
1- Tài thí : Của cải , tiền bạc và hiến tặng thân thể. Hiến tặng thân thể là một hành động cao quý nhất của Tài thí, như một chiến sĩ hy sinh một phần thân thể cho Tổ Quốc, hiến tặng một cơ quan trong cơ thể cho bênh nhân nan y…
2-Pháp thí : Đem giáo lý giảng giải cho người khác nhằm tu thân hướng thiện với mục đích tối hậu là giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Thiếu mục đích tối hậu là giải thoát thì Pháp thí mất ý nghĩa rất nhiều.
3-Vô-Úy thí : Trấn an tinh thần, xoa dịu tinh thần cho những ai bị khủng hoảng, lo sợ trong mọi tình huống như sa thải, tai nạn, mất thân nhân…
Theo Lục tổ Huệ Năng, trong Kinh Kim Cang Chư Gia :
Tuy có ăn mặc mà tánh ngu mê, là kiếp trước bố thí cúng dường mà không thọ trì kinh điển.
Còn thông minh trí huệ nhưng lại nghèo hèn, thiếu ăn, thiếu mặc là kiếp trước trì kinh nghe pháp mà không bố thí cúng dường.
"Bố thí là một kho tàng phước đức luôn luôn đi theo người chủ (tức người cho) đời này sang đời khác; bố thí xây dựng hạnh phúc và tiêu trừ đau khổ; người biết bố thí thì ai cũng thương mến; bố thí làm cho tâm (người cho) được an vui, khi gần chết tâm không sợ hãi; bố thí tiêu trừ lòng tham lam bỏn xẻn; người biết bố thí thì chư Thiên ủng hộ; bố thí là con đường trong sạch mà tất cả Thánh nhân đều đã đi qua; bố thí là một thiện nghiệp sẽ cho ra quả báo tốt; bố thí là hành động của những người hùng; bố thí sẽ tiêu trừ sự nghèo và đóng cửa dẫn đến ba đường ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh); bố thí giữ gìn công đức; bố thí là điều kiện đầu tiên của con đường dẫn đến Niết Bàn; bố thí là gốc rễ của tất cả thiện pháp; bố thí là nhà ở của những người cao quý, là thú vui của những bậc Thánh và Vĩ nhân; bố thí là một cái gương sáng đáng để cho những người thiếu phước đức và trí huệ noi theo"
Để thay đổi Dòng Định Mệnh, một trong những hạnh đầu tiên, theo Tử vi là thực hiện hạnh Bác Sĩ, Giúp đỡ cho tất cả mọi người không phân biệt giới tính, nòi giống, màu da, và tín ngưỡng, không phân biệt lối sống và giàu nghèo, hy sinh một số thời gian để chăm sóc cho người nghèo, kẻ vô gia cư, người bất hạnh và người cô đơn.
Hạnh Bố thí (Bác Sĩ) gìn giữ công đức qua Thiên quan, Thiên phúc, chuyển nghiệp Song Hao thành dòng Thiên nghiêp tiêu trừ chướng ngại và sự nghèo khó, đốc thúc Tướng Quân quẵng Kinh Dương, thu hôi Đà La mở kho Lộc tồn. Mười hai cung, mười hai tương quan, chỉ một Hạnh Bố Thí đủ để thay đổi những gì tưởng đã An Bài.