Saturday, December 11, 2010

Tào Tháo vì sao muốn giết Hoa Đà? (Phần II)

Tào Tháo đã “thân lý quốc chính” (tự thân xử lý việc nước), vì thế ông ta đương nhiên có quyền sinh sát, có thể dùng pháp lệnh nhà nước đàng hoàng mà giết người. Huống chi người chọc giận ông ta chỉ là một lang trung, địa vị rất thấp, giết cũng đâu phải là vấn đề. Vì thế Tào Tháo vì tức giận mà xử sự cảm tính, đó chính là điều dẫn đến hai nguyên nhân Tào Tháo giết Hoa Đà.

Một là, có thể giết. Hai là không có ảnh hưởng gì lớn. Nhưng đây chỉ là nguyên nhân bề mặt. Nguyên nhân chân chính khiến Tào Tháo giết Hoa Đà chính là vì Tào Tháo trước nay không coi Hoa Đà là “người”. Đương thời chế độ pháp luật bảo vệ cho quyền uy của Tào Tháo chứ không mảy may bảo về quyền sống của Hoa Đà.

Về phía Hoa Đà mà nói, việc ông ta không chịu “vung dao mổ” là một cái cớ để Tào Tháo giết.

Thứ nhất, ông ta không muốn làm thầy lang cho riêng Tào Tháo, mà muốn làm một lang trung lang thang khắp nơi chữa bệnh cho bách tính chứ nhất định không chịu phục vụ cho một người. Vì thế làm một thị y (thầy thuốc hầu) cho Tào Tháo không phải là mong muốn của Hoa Đà. Vì thế, chức thị y này Hoa Đà không hoàn toàn nghĩ tới. Hoa Đà lấy lý do là vợ có bệnh để không đến Hứa Đô. Nhưng mà Hoa Đà cũng là một con người, ông ta cũng có quyền lựa chọn đi hay không đi!

Thứ hai, nhớ nhà. Hoa Đà truyện trong Hậu Hán thư và Tam Quốc chí đều nói rằng thời gian Hoa Đà trị bệnh cho Tào Tháo rất lâu, xa nhà, nhớ nhà đến sốt ruột. Vì nhớ nhà mà không muốn phục vụ Tào Tháo nữa. Lựa chọn ai để phục vụ là quyền lợi chính đáng của Hoa Đà, điều này đâu phải là tội?

Thứ ba, không hiểu đầy đủ về Tào Tháo. Hoa Đà đã không hiểu đầy đủ về một nhân vật gian hùng thời loạn như Tào Tháo, càng không hiểu đầy đủ về quyền sinh sát mà Tào Tháo đã chế độ chuyên chế ban cho. Hoa Đà từ chối không đi với lý do là vợ bị bệnh nhưng lý do này rất dễ bị người ta phát hiện . Nếu bị Tào Tháo phát hiện ra thì sao ? Điều này Hoa Đà dường như không nghĩ tới, không hề có phương án để đối phó. Giống như Hoa Đà là một danh y nổi tiếng, nhưng trong con mắt Tào Tháo ông ta chỉ là một kẻ “tiểu nhân”. Không chỉ là Tào Tháo, những quan lại thời đó đều không coi những người không phải là quan là con người chứ đừng nói đến nhân tài. Chúng ta nói Tào Tháo là kẻ yêu tài nhưng mà Tào Tháo không hề yêu người có tài. Vì thế những kẻ thống trị chuyên chế đều khu biệt “nhân” và “tài”, chỉ yêu “tài” chứ không yêu “nhân”. Đây cũng là cách nhìn nhân tài của chế độ chuyên chế.

Hoa Đà trở thành một danh y nổi tiếng, được nhiều người tôn kính là do những thường dân bách tính, là những người bệnh trong nhân dân.. Vì thế, Hoa Đà muốn lấy lý do vợ mình mắc bệnh để không làm thầy lang hầu hạ Tào Tháo là một suy nghĩ giản đơn và ấu trĩ. Tào Tháo có lý do để giết Hoa Đà, Hoa Đà lại không suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện, vì thế ông ta chẳng phải cũng có một phần trách nhiệm trong cái chết oan uổng của mình hay sao?

Cả Tam Quốc chí và Hậu Hán thư đều không ghi chép việc Hoa Đà đề xuất mổ đầu Tào Tháo để trị bệnh. Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung ghi chép về cái chết của Hoa Đà là thuần túy hư cấu. Nhưng những hư cấu của Tam quốc diễn nghĩa cũng không phải là hoàn toàn vô căn cứ, nó cũng có nền tảng hiện thực của nó: Một là Hoa Đà có thể dùng “Ma phí tán” để phẫu thuật bụng. Hai là Hoa Đà giết là sự thực. La Quán Trung muốn ca ngợi Hoa Đà mới có chuyện Hoa Đà đề nghị Tào Tháo mổ đầu chứ không hề có chuyện này.

Tam Quốc diễn nghĩa là một trong bốn bộ tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng của Trung Quốc, Hoa Đà cũng là một danh y trong truyền thuyết người Hoa. Vì thế việc ông ta muốn dùng rìu sắc mổ đầu Tào Tháo để lấy “phong diên” mới được lưu truyền rộng rãi nhưng hoàn toàn không phải là sự thực về cái chết của Hoa Đà.

Liên quan đến cái chết của Hoa Đà, gần đây người ta đưa ra một nguyên nhân: Hoa Đà dựa vào y thuật cao siêu của mình muốn đòi Tào Tháo ban quan chức, kết quả bị Tào Tháo giết.

Luận điểm này là gì?

Một là “tâm lý bất bình”. Hoa Đà vốn là một người đọc sách, đến cuối đời vẫn là một thầy thuốc bình thường nên tâm lý hay bất bình. Đặc biệt là sau khi danh tiếng của ông ta ngày càng nổi, càng tiếp xúc nhiều hơn với quan lại quý tộc, nhìn thấy những người này làm quan, nội tâm càng cảm thấy bất bình. Vì thế Hậu Hán Thư – Hoa Đà truyện, mới nói Hoa Đà là “người ghét việc ác, khó mà có được”. Hoa Đà vì không thể làm quan nên tính cách càng ngày càng quái dị không thể xử sự giống như người khác .

Hai là “giữ bệnh để làm mình trở nên quan trọng”. Tào Tháo sau khi giết Hoa Đà, công khai nói với mọi người rằng: Hoa Đà có thể trị được căn bệnh đau đầu của ta nhưng có ý không muốn trị, mà chỉ muốn mượn cớ đó để nâng cao giá trị của mình. Ta không giết hắn hắn cũng không chữa dứt hẳn căn bệnh đau đầu cho ta.

Ba là “khuếch đại bệnh tình”. Tào Tháo chỉ bị đau đầu nhưng Hoa Đà nói là bệnh này không thể trị dứt được, kiên trì trị bệnh lâu dài mới mong sống thêm được vài năm.

Tôi cho rằng ba lý do này đều không tồn tại. Bởi vì bề ngoài thì có lý nhưng bên trong thì rất vô lý.

Đầu tiên là “tâm lý bất bình”.

Hoa Đà có thích làm quan không? Trần Khuê đề cử ông ta làm Hiếu liêm nhưng ông ta từ chối. Thái úy Hoàng Uyển mời Hoa Đà, Hoa Đà cũng từ chối không đến. Hiếu Liêm và Trưng Tích là hai con đường lớn để bước vào hoạn lộ thời Đông Hán nhưng Hoa Đà đều không muốn đi theo. Bởi vì Hoa Đà sinh ra vào thời loạn, không muốn làm quan. Một người không muốn làm quan vì sao phải lợi dụng Tào Tháo để đòi một chức quan?

Hoa Đà tâm lý bất bình có thể là sự thật nhưng Hoa Đà vẫn nhận lời Tào Tháo đến trị bệnh, đồng thời còn “thường ở bên cạnh”. Nếu muốn cầu quan nơi Tào Tháo thì sao không kéo dài thời gian trị bệnh cho ông ta? Sau đó lại còn lấy lý do vợ bị bệnh để không vào phủ chữa bệnh cho Tào Tháo, rõ ràng là không muốn nhận sự biết ơn của Tào Tháo, cũng không muốn bị giam cầm trong cái lồng của Tào Tháo. Nói “giữ bệnh” và “dứt căn” thực ra là cường điệu. Nếu như Tào Tháo lấy việc “giữ bệnh” để thêm tội cho Hoa Đà, thì sao Hoa Đà không “trị dứt căn” để thoát khỏi sự trị tội của Tào Tháo. Có thể thấy, Hoa Đà nhận lời mời của Tào Tháo, thuần túy là trị bệnh chứ không phải là có ý cầu làm quan. Bỏ Tào mà đi là vì không thể trị dứt bệnh chứ không phải là không muốn chữa.

Vì thế luận về cái chết của Hoa Đà tất nhiên phải luận về vấn đề: Hoa Đà vui thú với nghề y hay xấu hổ với nghề y?

Hoa Đà không muốn làm quan thời loạn là điều nhất quan từ trước tới sau. Trước không muốn người tiến cử, sau không muốn phụ giúp Tào Tháo. Bởi vì tư tưởng chính thống ở Hoa Đà rất sâu. Tào Tháo, là “kẻ lấy danh nghĩa thiên tử để ra lệnh chứ không tự coi là thần”. Đối với một người có tư tưởng chính thống như Hoa Đà đương nhiên không hợp. Hoa Đà là một lương y, ông ta có nguyện vọng cứu xã hội. Thậm chí thân bị giam trọng ngục tối vẫn muốn viết sách để lưu truyền hậu thế, hy vọng y thuật của mình có thể cứu giúp được nhiều người hơn nữa. Ông đã truyền Ngũ cầm hý để rèn luyện thân thể và dạy châm cứu để trị bệnh. Có thể thấy là Hoa Đà vui với nghề y chứ không xấu hổ với nghề y.

Vì sao một người lấy nghề y làm vui như Hoa Đà lại vẫn có tư tưởng “thân là nhân sĩ, lấy nghề y để dựng nghiệp, thường cảm thấy tự ân hận”. Điều này đối với nhận định Hoa Đà vui với nghề y chẳng phải là mâu thuẫn lắm sao?

Hoa Đà cũng là một người đọc sách “thông hiểu các kinh”, đương nhiên bản thân cũng muốn làm quan. Nhưng Hoa Đà sinh ra vào cuối thời Đông Hán, chính trị cực kỳ hỗn loạn, Hoa Đà lại không có người giúp đỡ, không có hoàn cảnh vì thế đọc sách làm quan đối với Hoa Đà thực ra là một tham vọng quá cao.

Không thể làm quan, nhưng con người ta vẫn phải sống nên Hoa Đà mới làm nghề y. Dùng nghề y để mưu sinh đối với người có y thuật cao siêu như Hoa Đà là không thành vấn đề. Vì thế Hoa Đà mới trở thành thầy thuốc du hành tứ phương để cứu người. Đồng thời trên đường hành nghề, y thuật của Hoa Đà cũng được nâng cao, cảm thấy sâu sắc rằng: Bách tính nhân dân trong đời loạn như thế này rất cần những danh y như Hoa Đà. Chính vì nhu cầu xã hội và y thuật cao siêu của Hoa Đà phối hợp mới tạo thành một thần y Hoa Đà vui vì bốc thuốc chữa bệnh cứu người như vậy.

Tuy Hoa Đà phải lấy nghề y làm sự nghiệp, cũng cảm thấy bất bình nhưng trải qua nhiều năm tháng hành nghề y, Hoa Đà biểu hiện một nhiệt tình thực sự đối với nghề này.

Trên đường hành nghiệp, Hoa Đà từng gặp một bệnh nhân bị nghẽn yết hầu, rất muốn ăn một thứ gì đó nhưng không thể ăn được. Người nhà dùng xe kéo anh ta đi tìm thầy thuốc. Hoa Đà nghe thấy anh ta kêu đâu mới dừng xe lại xem bệnh. Xem xong, Hoa Đà nói với người nhà anh ta rằng: Vừa rồi tôi gặp trên đường một tiệm bánh, trong bánh có rất nhiều tỏi và giấm. Đi mua lấy 3 thăng hai loại đó, uống vào, bệnh tự nhiên sẽ khỏi. Người nhà bệnh nhân y lời làm theo, mua giấm và tỏi cho bệnh nhân uống. Uống xong bệnh nhân cảm thấy buồn nôn rồi nôn ra một con giun, bệnh cũng vì thế mà khỏi. Lúc đó Hoa Đà đã đi mất, người bệnh bèn treo con giun vào bên xe, tự mình đến nhà Hoa Đà để cảm tạ. Hoa Đà không vẫn chưa trở về, con của ông vẫn đang chơi ở cửa, nhìn thấy người tới, ngay lập tức tự nói với mình, chắc chắn là đến gặp cha ta, bên xe treo một con giun chứng tỏ điều đó. Người bệnh nhân này tiến đến gần nhà của Hoa Đà mới thấy trên bức tường phía bắc nhà Hoa Đà có treo đến chính mười con giun.

Ví dụ này rất điển hình. Người bệnh rên rỉ, Hoa Đà nghe tiếng rên mà tới, chủ động tìm bệnh nhân để trị bệnh, nói cách trị bệnh cho bệnh nhân rồi đi. Người bệnh tìm đến nhà để cảm ơn, con của Hoa Đà nhìn thấy bên xe của bệnh nhân có treo con giun đũa thì biết là người đã được cha mình chữa khỏi. Bệnh nhân nhìn bức tường của nhà Hoa Đà mới biết Hoa Đà là người chuyên chữa loại bệnh này.

Lại nói đến điều thứ hai, “giữ bệnh để tăng sự quan trọng của mình”

Đây là câu nói của Tào Tháo sau khi giết Hoa Đà. Vì thế không loại trừ nhân tố là Tào Tháo dùng câu nói này để tự bào chữa cho mình. Đồng thời, nhân tố này là rất quan trọng. Hoa Đà là một danh y. Khi Tào Tháo quyết định giết Hoa Đà thì mưu sĩ quan trọng nhất của Tào Tháo là Tuân Húc đã ra sức can gián... Vì vậy sau khi giết Hoa Đà, Tào Tháo cũng vì thế mà nhận sự phê phán gay gắt của dư luận. Do đó cách nói “giữ bệnh của ta để làm tăng sự quan trọng của mình” là rất khó tin. Trên sự thực, bệnh đau đầu của Tào Tháo là rất khó chữa.

Nhưng cũng cần chú ý đến một phương diện khác, Tào Tháo là một người bệnh toàn tâm muốn được chữa khỏi, Hoa Đà là một thầy thuốc trị bệnh không phân biệt người bệnh. Nhưng giữa hai người lại rất khó để hiểu nhau. Hoa Đà cho rằng căn bệnh của Tào Tháo khó trị khỏi được, còn Tào Tháo lại cho rằng Hoa Đà “giữ bệnh để làm tăng sự quan trọng của mình”.

Cuối cùng là điều thứ ba, “khuếch đại bệnh tình”

Cái gọi là khuếch đại bệnh tình, theo ý tôi là sự thẳn thắn.

Bệnh “phong diên” là một loại bệnh rất khó chữa. Bệnh này tuy chỉ là đau đầu nhưng rất khó trị khỏi. Khi phát tác người bệnh đau dữ dội. Đồng thời bệnh có biến chứng. Biến chứng ở Tào Tháo chính là tâm hoảng loạn, mắt mờ. Tôi cho rằng Hoa Đà nói với Tào Tháo rằng bệnh này khó chữa khỏi là thực sự cầu thị, nói thực về bệnh tình của ông ta. Lời nói thẳng thắn này không phải là bắt buộc. Bởi vì nguyên nhân chân chính của cái chết Hoa Đà là đã mạo phạm đến cơn đại nộ của Tào Tháo. Mà Tào Tháo cũng không coi Hoa Đà là một con “người”, cũng không hề tôn trọng sự lựa chọn cuộc sống của Hoa Đà.

Lưu Vũ Tích, một thi nhân nổi tiếng đời Đường trong bài Hoa Đà luận có một câu nói nổi tiếng rằng: “Chấp chính giả chi huệ, chân khả úy chư”. Chính là muốn nói Tào Tháo “năm quyền” sinh sát mà xử sự cảm tính như vậy thật chẳng phải là rất đáng tiếc hay sao?

Hy Văn (Vietimes) dịch từ China.com

Tào Tháo vì sao muốn giết Hoa Đà? (Phần I)

Tam Quốc diễn nghĩa chép: Tào Tháo mắc bệnh đau đầu, mời danh y là Hòa Đà đến chữa trị. Hòa Đà nói với Tào Tháo, rằng căn nguyên của bệnh đau đầu của ngài chính là do “phong diên”, nó lớn dần lên trong não. Chỉ còn cách là dùng “ma phí tán” sau đó dùng rìu bổ đầu ra mới có thể lấy “phong diên” ra ngoài mới có thể trị triệt để căn bệnh đau đầu của ngài được. Tào Tháo vốn đa nghi vừa nghe qua phương án trị bệnh của Hoa Đà lập tức nổi giận. Ông ta cho rằng Hoa Đà muốn báo thù cho Quan Vũ nên tính mượn cơ hội dùng đao phẫu thuật để giết mình. Trong cơn thịnh nộ, Tào Tháo lập tức sai nhốt Hoa Đà vào ngục tối rồi giết Hoa Đà. Sự kiện này nhờ Tam Quốc diễn nghĩa, một trong tứ đại kỳ thư và hàng loạt những sách bình luận, điện ảnh, phim truyền hình đã lưu truyền rất rộng, không ai là không biết. Nhưng việc Hoa Đà bị giết có thực sự giống như Tam Quốc diễn nghĩa đã ghi chép hay không? Nếu như những gì được ghi lại trong Tam Quốc diễn nghĩa không phải là sự thực lịch sử vậy Hòa Đà rốt cuộc vì sao lại bị Tào Tháo giết?
Trong cái chết của Hoa Đà có một bước ngoặt rất quan trọng mà mọi người đã bỏ qua chính là Tào Tháo đã triệu Hoa Đà đến để trị bệnh cho mình. Nếu như Tào Tháo không triệu Hoa Đà đến khám bệnh, thì Tào Tháo và Hoa Đà, một anh hùng thời loạn, một thầy thuốc tứ phương, anh cứ làm thừa tướng, tôi cứ việc chữa bệnh cho bách tính, không ai xâm phạm đến ai, Hoa Đà tuyệt nhiên không thể bị Tào Tháo giết được. Vì thế muốn biết nguyên nhân vì sao Tào Tháo giết Hoa Đà trước tiên phải lý giải vì sao Tào Tháo lại triệu Hoa Đà đến xem bệnh cho mình?

Trong Tam Quốc chí – Hoa Đà truyện Hậu Hán thư – Hoa Đà truyện có ghi chép về khả năng chữa bệnh thần kỳ của Hoa Đà rồi sau đó mới nói “Thái tổ nghe tiếng mới triệu Hoa Đà”.
Nhưng sự kiện cuối cùng trước khi “Thái tổ nghe tiếng mới triệu Hoa Đà” được ghi chép trong Tam Quốc chíHậu Hán Thư đều là sự kiện cái chết của Thái thú Quảng Lăng Trần Đăng. Cái chết của Trần Đăng là nằm trong dự đoán của Hoa Đà rằng sau ba năm ông ta sẽ phát bệnh (Bệnh này sau ba năm sẽ phát, nếu gặp lương y mới mong chữa được,… Lúc ấy mà Đà này không ở đó, sẽ như lời mà chết). Sau đó mới thấy đoạn “Thái tổ nghe danh mới triệu Hoa Đà”. Vì thế với hai truyện ký về Hoa Đà được ghi lại trong Tam Quốc chíHậu Hán thư, có thể thấy rõ rằng việc Tào Tháo triệu Hoa Đà vào phủ chữa bệnh có 3 khả năng:
Một là Tào Tháo nghe y thuật thần kỳ của Hoa Đà mà cho triệu kiến.
Hai là nghe nói Hoa Đà đã dự đoán chính xác về cái chết của Thái thú Trần Đăng mà cho triệu kiến.
Ba là Tào Tháo vì cả hai điều trên mà cho triệu kiến Hoa Đà.
Tình huống thứ nhất là hoàn toàn có thể. Tào Tháo và Hoa Đà vốn là đồng hương, y thuật siêu việt của Hoa Đà mà Tào Tháo không nghe mới là chuyện không bình thường.
Còn trong tình huống thứ hai thì chắc chắn là Tào Tháo và Trần Đăng có mối quan hệ.
Trần Đăng là một người rất được Tào Tháo tín nhiệm. Cha con họ Trần đã làm cho Tào Tháo hai việc lớn vì thế rất được Tào Tháo coi trọng. Một là cha của Trần Đăng là Trần Khuê đã ngăn cản quan hệ thông gia giữa Viên Thuật và Lã Bố. Lã Bố và Viên Thuật không kết được thông gia, cũng không thể liên thủ điều này có vai trò rất quan trọng trong quá trình thống nhất phương Bắc của Tào Tháo. Hai là Trần Đăng đã can ngăn trước khi Lã Bố đến bái kiến Tào Tháo, bí mật nói với Tào Tháo rằng: Lã Bố là người hữu dũng vô mưu, có sữa thì là mẹ, phản trắc bất thường nên sớm diệt trừ. Tào Tháo nghe xong cảm thấy rất vui. Bởi vì Tào Tháo luôn nghĩ rằng Lã Bố là kẻ tất nhiên phải trừ khử vì thế Tào Tháo đã ngay lập tức phong cho Trần Khuê, cha của Trần Đăng chức quan 2.000 thạch, còn Trần Đăng thì được phong làm thái thú Quảng Lăng. Khi chia tay Trần Đăng, Tào Tháo còn cầm tay Trần Đăng nói: “Việc ở phía đông, phải giao phó cho ông”. Chuyện ở phía Đông đều giao phó cho ông là việc gì? Đó chắc chắn là việc Trần Đăng sẽ làm nội ứng cho Tào Tháo trong quân Lã Bố.
Trần Đăng đã không phụ lòng gửi gắm của Tào Tháo. Sau khi Lã Bố thấy Trần Đăng từ chỗ của Tào Tháo trở về, Trần Khuê, Trần Đăng đều được phong quan cao bổng hậu trong lòng lo lắng không yên muốn trở mặt với Trần Đăng. Trần Đăng chỉ nói một câu đã làm lay động Lã Bố. Trần Đăng nói: Sau khi tôi đến gặp Tào Tháo, nói Lã Bố là một mãnh hổ, chỉ có thể cho hắn ăn no thì ngài mới có thể dùng được. Tào Tháo nói, ngươi nói không đúng. Lã Bố là một con đại bàng hung dữ, chỉ cần cho hắn đói một chút hắn mới có thể phục vụ cho ta. Nếu như cho ăn no rồi, hắn sẽ cất cánh mà bay mất. Lã Bố vừa nghe Trần Đăng nói Tào Tháo khen mình là đại bàng, rất cao hứng quên luôn cả mối hiềm nghi của mình.
Vì thế có thể nói trong lòng Tào Tháo, Trần Đăng là một công thần có dũng có mưu. Do đó, khi Trần Đăng bị bệnh và được Hoa Đà chuẩn đoán chắc chắn là thông báo cho Tào Tháo biết: Loại bệnh này ba năm sau sẽ tái phát. Nếu như lúc đó mà gặp được thầy giỏi có thể trị được. Ba năm sau bệnh của Trần Đăng quả nhiên bạo phát, khi ấy Hoa Đà không còn ở đó nữa, Trần Đăng cũng vì thế mà chết.
Cái chết của Trần Đăng ngay lập tức truyền khắp thiên hạ.Tào Tháo coi trọng Trần Đăng như vậy hẳn nhiên cái chết của ông ta sẽ gây ra một chấn động lớn.
Sau khi Trần Đăng chết, Tào Tháo cho triệu kiến Hoa Đà nguyên nhân đương nhiên là khả năng thứ hai. Bởi theo Hoa Đà truyện y thuật thần kỳ của Hoa Đà đều là những việc chữa trị cho dân thường và quan chức cấp thấp. Những người này đối với Tào Tháo chẳng quan trọng gì. Trần Đăng không như vậy. Ông ta là người được Tào Tháo tín nhiệm và coi trọng. Cái chết của Trần Đăng có hai điểm làm kinh động Tào Tháo: Một là thời gian Trần Đăng phát bệnh. Hai là vì không có Hoa Đà ở đó mà Trần Đăng bị chết. Trước là chẩn đoán, sau là trị liệu. Cái chết của Trần Đăng đã chứng minh Hoa Đà trong cả việc chẩn đoán và trị bệnh đều rất có quyền uy.
Một vị thần y như vậy, Tào Tháo đương nhiên rất cần.
Còn như khả năng thứ ba là hiện thực nhất. Có những lời đồn trong dân chúng lại thêm cái chết của Trần Đăng đương nhiên địa vị của Hoa Đà trong Tào Tháo sẽ được nâng cao. Vì thế Tào Tháo mới nghĩ đến việc mời Hoa Đà về trị bệnh.
Đương nhiên vẫn còn một điểm đó chính là nhu cầu của Tào Tháo. Nếu Tào Tháo không có bệnh thì mời một danh y như Hoa Đà làm gì? Tào Tháo mắc bệnh đau đầu. Một khi bệnh này phát, Tào Tháo tâm loạn mắt mờ vô cùng khó chịu.
Tào Tháo triệu Hoa Đà trị bệnh cho mình, các điều kiện khách quan và chủ quan đều đầy đủ.
Một người sở trường trong việc chữa các bệnh nan y như Hoa Đà vừa nhìn thấy Tào Tháo đau đầu, lập tức châm cứu cho Tào Tháo. Châm cứu xong hết đau, vô cùng công hiệu. Nhưng khi đó quan hệ giữa Tào Tháo và Hoa Đà là “thường ở bên cạnh” để lỡ Tào Tháo có phát bệnh thì có thể lập tức trị liệu.
Nhưng “thường ở bên cạnh” hoàn toàn không phải là ngày ngày theo hầu Tào Tháo. Sự dựa dẫm của Tào Tháo vào Hoa Đà không phải là quá lớn. Sau đó, Tào Tháo còn tự mình xử lý việc quốc gia đại sự (Thái tổ thân lý – Thái tổ tự xử lý việc quốc gia đại sự) rất bận rộn mà bệnh tình ngày càng trầm trọng vì thế mới dùng Hoa Đà làm thầy thuốc của riêng mình (sử Đà chuyên thị - dùng Hoa Đà chuyên coi việc sức khỏe cho mình).
“Chuyên thị” và “thường ở bên” không hề giống nhau. “Thường ở bên” là khi cần thì cho gọi, còn “chuyên thị” thì Hoa Đà đã trở thành một thầy thuốc “riêng” hầu hạ cho Tào Tháo.
Vậy “Thái tổ tự mình xử lý việc quốc gia” là vào thời gian nào?
Vào năm Kiến An nguyên niên (tức năm 196) Tào Tháo đón Hiến Đế về Hứa Xương. “Phụng sự thiên tử để lệnh cho thiên hạ”. Khi đó Tào Tháo đã có quyền thế khuynh đảo thiên hạ. Năm Kiến An thứ 5, xuất binh đánh bại Viên Thiệu, đến năm Kiến An thứ 7 Viên Thiệu mắc bệnh mà chết. Đến năm Kiến An thứ 9 Tào Tháo đánh bại Viên Thượng định đô ở Nghiệp Thành. Tháng 1 năm Kiến An thứ 10, Tào Tháo tấn công giết Viên Đàm. Tập đoàn họ Viên cuối cùng đã bị đập tan. Đương nhiên nói sự diệt vong của tập đoàn Viên Thiệu chính là nói Tào Tháo bắt đầu “thân tự xử lý” những việc trọng đại trong triều. Việc triều chính bận rộn đã khiến bệnh đau đầu của Tào Tháo phát tác. Chính lúc đó, Tào Tháo mới quyết định để Hoa Đà thành bác sĩ “riêng” của mình. Hoa Đà từ thân phận một lang trung du hành khắp nơi chưa bệnh trong quá khứ đã bị hạn chế tự do hành động. Đây là một điểm quan trọng.
Nhưng mà Hoa Đà ở bên cạnh Tào Tháo một thời gian liền xin về quê nghỉ phép. Lấy cớ gì để xin nghỉ phép đây?
Trong hai cuốn sử đã dẫn ở trên có chép: Một là về quê lấy thuốc (Hậu Hán thư), hai là nhận được thư của gia đình (Tam Quốc chí). Nhưng không kể là lý do nào, Tào Tháo đều đồng ý.
Tào Tháo vì sao lại đồng ý?
Một là về nhà lấy thuốc thì không thể không đồng ý. Không đồng ý làm sao có thuốc trị bệnh?
Hai là muốn thu phục nhân tâm. Nhận được thư của gia đình mà không cho về chẳng phải Tháo đã đánh mất lòng trung nơi thần y sao?
Nhưng lý do xin nghỉ phép thực sự của Hoa Đà là gì?
Hậu Hán thư – Hoa Đà truyện nói tới bốn lý dó: Một là Hoa Đà tính cách cổ quái (vi nhân tính quái), hai là Hoa Đà ở chỗ Tào Tháo không được như ý muốn (nan đắc ý), ba là cảm thấy xấu hổ vì nghề y (sỉ sĩ y kiến nghiệp), bốn là nhớ nhà (khứ gia tư quy). Tam Quốc chí thì chỉ nói đến một lý do: nhớ nhà (cửu viễn tư gia quy).
Hoa Đà về nhà lấy lý do là bệnh của vợ chưa khỏi cứ kéo dài thời gian nghỉ mà không trở lại phủ Tào Tháo. Tào Tháo nhiều lần viết thư còn sai quan chức địa phương đến thúc giục nhưng không làm Hoa Đà lay chuyển.
Vì sao Tào Tháo thúc bách Hoa Đà như vậy mà ông ta không lay chuyển?
Tam Quốc chí nói là “Đà ỷ năng khánh thực sự” còn Hậu Hán thư nói: “ỷ năng khánh sự”. Cả hai cuốn sử này đều nói giống nhau rằng, Hoa Đà dựa vào y thuật cao siêu của mình không muốn làm một thầy lang hầu hạ riêng cho Tào Tháo.
Tào Tháo biết rằng mình thúc giục mà không lay chuyển được Hoa Đà, lập tức nổi giận truyền người trước sau điều tra phát hiện rằng vợ của Hoa Đà giả bệnh. Vì thế Tào Tháo cho bắt Hoa Đà, giải về giam tại nhà ngục ở Hứa Đô (nay là Hứa Xương Hà Nam). Thông qua tra khảo, Hoa Đà xác nhận mình phạm tội “lừa dối”.
Mưu sĩ lớn nhất của Tào Tháo là Tuân Húc nói với Tào Tháo rằng: Y thuật của Hoa Đà là rất cao, sự sống còn của ông ta có quan hệ đến sinh mệnh của rất nhiều người nên miễn tội cho ông ta. Nhưng Tào Tháo nghe xong không vừa ý, nói với Tuân Húc rằng: Không cần phải lo, trong thiên hạ này lẽ nào lại không tìm được một thầy thuốc như vậy hay sao?
Kết quả một ngôi sao lớn đã rơi, thần y Hoa Đà đã bị Tào Tháo giết.
Tào Tháo là người rất yêu người tài, tiếc người tài và trọng người tài. Hòa Đà cũng là một vị thần y hiếm có vậy tại sao Tào Tháo lại muốn giết Hoa Đà?
Về phía Tào Tháo, Tào Tháo muốn Hoa Đà chuyên tâm điều trị bệnh cho mình đồng thời đối với việc vợ của Hoa Đà bị bệnh, ông ta cũng đã đối xử thấu tình đạt lý. Tào Tháo còn hứa sẽ tặng cho Hoa Đà 40 mươi hộc đậu (từ thời Tống trở về trước, 10 đấu gọi là một hộc), dễ dàng cho phép ông về quê thăm gia đình. Cách làm này của Tào Tháo rõ ràng là để thu phục nhân tâm nhưng làm được việc này đối với Tào Tháo cũng không đơn giản, chí ít nó cũng nói rõ rằng Tào Tháo rất cần Hoa Đà. Nhưng Hoa Đà lại chẳng hề cảm kích cũng không chịu nghe theo mệnh lệnh của Tào Tháo mà về chữa trị cho ông ta, còn lấy việc bệnh tật của vợ để lừa Tào Tháo, không vào phủ chữa bệnh. Tào Tháo đương nhiên nổi giận. Đối với một vị tể tướng triều Đại Hán đang năm mọi quyền sinh sát trong tay, Hoa Đà chỉ làm một phương kỹ (từ dùng chỉ chung các nghề y, bói toán, xem tướng,… thời xưa), tức là kẻ tiểu nhân mà thôi.

Hy Văn (báo điện tử VietNamNet - theo China.com)

Bất bình thay cho Tào Tháo, tiếng oan mãi cứ ngàn năm?

Dù đã được không ít danh nhân như Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược… dày công giải thích thì nay quan điểm xem Tào Tháo là hoá thân của gian thần vẫn có môi trường sống khoẻ khoắn rộng rãi. Điều này không khỏi khiến chúng ta giật mình trước sức mạnh của văn học, sức mạnh của truyền thống. Bài viết dưới đây xuất phát từ hai luận điểm chủ yếu là những cống hiến của Tào Tháo đối với tác phẩm “Binh pháp Tôn Tử” và thái độ trọng đãi nhân tài của ông để bất bình thay cho Tào Tháo. Bên cạnh đó cũng phân tích bởi “ép Thiên tử cho mình làm Chư hầu, mong hỗ trợ Hoàng đế trị vì, vì thế mà từ đời Tống về sau chẳng còn thấy những lời bình tốt đẹp về Tào Tháo”, có thể cũng giúp giải đáp phần nào lý do vì sao Tào Tháo phải mang trên mình án oan làm nhân vật phản diện suốt hơn 1000 năm.

“Nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đến liền” là câu tục ngữ trong dân gian Trung Quốc. Câu nói này có thể hiểu rằng ông Tào Tháo này khắp cùng nam phụ lão ấu người Trung Quốc đều thuộc nằm lòng cả. Nhưng nhận thức dân gian đối với Tào Tháo lại chỉ gói gọn trong một đại từ “gian hùng một thời”. Nhận thức này chủ yếu đến từ “Tam quốc diễn nghĩa”. “Tam quốc diễn nghĩa” được xếp vào một trong bốn bộ danh tác của văn học cổ điển Trung Quốc cùng với “Hồng Lâu Mộng”, “Thuỷ Hử truyện”, “Tây Du ký”, trong đó có viết lại một câu bất hủ của Tào Tháo: “Thà ta phụ người trong thiên hạ, còn hơn để người trong thiên hạ phụ ta”. Như đổ thêm dầu vào lửa, hết lượt hý kịch, bình thư, điển nghệ suốt trong lịch sử đều dốc sức dặm mắm thêm muối, trên sân khẩu hý kịch Tào Tháo đã mang một bộ mặt trắng toát mắt kẻ chỉ, tượng trưng cho hình ảnh tên gian thần vạn phần gian ác.

Kinh kịch là quốc tuý của Trung Quốc, có thanh thế lớn cả ở trong và ngoài nước, vô số khách nước ngoài cũng chỉ vì kinh kịch mà tới Trung Quốc để tìm hiểu. Những vở trong Kinh kịch như “Xúc phóng Tào”, “Kích cổ giá Tào” và “Từ mẫu giá Tào”, trong vở “Thăm nhà” có vai ông cụ bà cụ, hát giọng hào sảng sôi nổi, uyển chuyển cảm động, làm cho người mê kịch nghe như ngây như dại, nhưng những tình tiết hư cấu này không chỉ vu hại Tào Tháo mà còn hạ thấp Tào Tháo cả về tài trí lẫn năng lực, dựng nên một hình tượng nghệ thuật đa nghi giảo quyệt, giết người không nương tay, ngang ngược bạo hành và tự tư một cách cực đoan.

Diện mạo chân thực của Tào Tháo trong lịch sử ra sao? Thiên đầu tiên trong “Tam quốc chí” dành hẳn làm truyện ký cho Tào Tháo, tức “Vũ Đế kỷ”, đây là truyện ký đầu tiên viết về Tào Tháo trong lịch sử, ước dài khoảng hơn một vạn ba ngàn chữ. Truyện ký ghi thuật lại một cách khách quan công quả của Tào Tháo trong mấy chục năm chinh chiến. Tào Tháo sinh vào năm Đông Hán Vĩnh Thọ nguyên niên (155), mất vào năm Kiến An thứ 25 (năm 220 SCN). Cùng năm, sau cái chết của Tào Tháo, con Tháo là Tào Phi lên kế ngôi Nguỵ Vương. Không lâu sau, Hán Hiến Đế Lưu Hiệp bị bức phải nhường ngôi, Tào Phi trở thành hoàng đế đầu tiên của vương triều Nguỵ, sử gọi là Nguỵ Văn Đế, truy phong cha mình Tào Tháo là Nguỵ Vũ Đế chứ bản thân Tào Tháo lúc sinh thời chưa hề được làm hoàng đế. Tác giả “Tam quốc chí” Trần Thọ gọi ông là: “con người phi thường, kiệt nhân xuất thế”.

Mao Trạch Đông lúc phê vào cuốn “Tư trị thông giám” đã viết, “Tào Tháo thống trị miền Bắc Trung Quốc, sáng lập nước Nguỵ, ông đã cải cách nhiều hủ hoá trong triều Đông Hán, áp chế cường hào, phát triển sản xuất, thực hiện chế độ tuân điền, còn đôn đốc khai hoang, cho thực thi pháp chế, đề xướng tằn tiện, biến một xã hội đã bị phá vỡ nghiêm trọng bắt đầu đi vào ổn định, khôi phục, phát triển. Ngần ấy chẳng lẽ không đủ để khẳng định, chẳng lẽ không phải là tài cán phi thường hay sao? Nói Tào Tháo là gian thần mặt trắng ấy là bản án oan mà quan niệm chính thống của nền chính trị phong kiến đã tạo tác nên, bản án này cần phải được lật lại.” Ông còn ngợi khen khí khái hùng tráng của thơ văn Tào Tháo, trong bài từ “Lương đào sa. Bắc Đới Hà” của mình ông đã viết “Nguỵ Vũ quất roi, Đông lâm Kiệt thạch có áng văn lưu truyền muôn thuở”, vun đắp hình tượng nhà chính trị vĩ đại Tào Tháo. Trong thư ông viết cho các con gái, ông cũng yêu cầu họ phải học thơ văn Tào Tháo để nâng cao tu dưỡng văn học của mình. Trong bài thơ nổi tiếng “Quy tuy thọ” (rùa tuy thọ), Tào Tháo dùng những ngôn từ hùng tráng “tuổi cao tráng chí càng cao, chí ngoài ngàn dặm. Kẻ dạn dày công trạng, cuối đời hùng tâm tráng chí vẫn còn nguyên” để tỏ rõ thế thái của người dù già lão vẫn tráng kiện, câu nói ấy đã trở thành danh ngôn lưu truyền thiên cổ.

Ngày 23 tháng 3 năm 1959, tờ “Nhân dân nhật báo” đã đăng tải bài viết của Quách Mạt Nhược, viện trưởng Viện khoa học Trung Quốc với đầu đề “thay Tào Tháo lật lại hồ sơ”, trong đó có một tiêu đề nhỏ viết rằng: Tào Tháo đã phải làm tấm gương của kẻ phản diện hơn một ngàn năm đầy oan uổng, ngày hôm nay, phải thay ông khôi phục danh dự. Nhà lịch sử nổi tiếng Tiễn Bách Tán cũng đã viết một bài trên tạp chí “Sử học” lúc bấy giờ với tiêu đề “Phải khôi phục danh dự cho Tào Tháo”.

Kìm kẹp Thiên tử, dùng danh nghĩa mà hạ lệnh cho kẻ dưới: bậc đế vương thời hậu thế khó xét cho xuôi

Có thể nói, tài trí của Tào Tháo vượt xa Tôn Quyền, Lưu Bị và Gia Cát Lượng, không hổ danh là nhất đại anh hùng giữa thời loạn thế. Những thành tựu trác việt của ông trong tất cả các mặt chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn học … có công lao không thể phủ nhận. Đặc biệt trong chính sách tôn trọng trí thức và trọng dụng nhân tài, những cống hiến của ông xứng đáng được học hỏi, mang ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Lại nhờ sức hút tỏa ra từ nhân vật này mới có thể khiến hàng trăm văn nhân võ tướng biết tên biết mặt của thời bấy giờ đều tới quy tụ dưới trướng ông, chúng ta sẽ cùng phân tích cách đối nhân xử thế của ông.


Nói về việc đối nhân xử thế, đây là chủ đề phức tạp nhất, vi diệu nhất, cao viễn thâm sâu nhất và uyên áo nhất trong xã hội loài người. Đối nhân xử thế đụng chạm tới hết thảy cổ kim trong ngoài, như quan hệ trong nước - quốc tế, quan hệ dân tộc, quan hệ thượng cấp - thuộc hạ, quan hệ gia đình, quan hệ thày – trò, quan hệ nam nữ v..v…, nói cho cùng cũng đều là đối nhân xử thế cả. Đối nhân xử thế có xử lý tốt thì quốc mới thái dân mới an, sự nghiệp có thành tựu, quốc phú dân cường; xử lý không tốt thì chuyện lớn là chiến hoạ theo đó mà khởi phát, dân không còn đường sống; chuyện nhỏ là gia đình bất hoà, láng giềng bốn bề bất an, gà chó chẳng yên.

Trong xã hội phong kiến mấy ngàn năm, đối nhân xử thế khó xử lý nhất là quan hệ quân thần. Cái lẽ làm bạn vua như cưỡi trên lưng hổ, vua muốn bề tôi phải chết, bề tôi không thể không chết, ấy là quan niệm luân lý thời phong kiến. Dù có công phò trợ lập quốc, một khi bị vua có ý hoài nghi hay mang hận thì chỉ nội trong một đêm, khắp nhà đầy cảnh chém giết, thậm chí còn chu di cửu tộc. Dang tướng Ngũ Tử Tư và Hàn Tín bị chém đầu, thậm chí bị diệt đến cả ba họ sau những công trạng hiển hách đó thôi. Vậy nên, sử sách đã viết nên câu bất hủ thế này: “tóm được thỏ rồi chó săn cũng bị làm thịt, thiên hạ đã định xong công thần không còn đường sống; chim bay hết thì cung nỏ cũng chẳng còn tác dụng; kẻ địch bại, mưu thần tất vong”. Ấy là lời sấm truyền cho quan hệ quân thần trong xã hội phong kiến.

Đứng trước cảnh nước nguy nan, Tào Tháo cảm nhận rõ thiên tử là một nhân vật nguy hiểm, nhưng cũng lại là nhân vật trọng yếu mà một quốc gia thống nhất cần phải có. Do vậy thoạt tiên ông đem vị tiểu hoàng đế mới vỏn vẹn có 16 tuổi Lưu Hiệp (sử gọi là Hán Hiến Đế) đưa đến căn cứ địa của mình là Hứa Xương, thực hiện chính sách “phụng mệnh Thiên tử để ra lệnh”, đây chính là điều mà hậu thế vẫn lưu truyền về cái gọi là: “kìm kẹp thiên tử, dùng danh nghĩa mà phát lệnh cho kẻ dưới”. Cách hành xử chính trị này của ông biến Thiên tử thành biểu trưng hình tượng của quốc gia, bản thân mình thì nắm đại quyền chính trị quân sự của triều đình, khó tránh khỏi điều tiếng mà lịch sử gán cho. Trong khi ấy thì, một đời Lưu Hiệp sống cảnh Thiên tử an bình, sống cho tới tận 15 năm sau khi Tào Tháo chết, chỉ năm tháng trước khi Gia Cát Lượng bệnh mà chết trong đoàn Ngũ trượng nguyên quân mới già lão mà tạ thế. Ý ở đó nên nhà lịch sử nổi tiếng của Đài Loan – Trung Quốc là Bách Dương mới gọi ông ta là “hoàng đế cuối triều may mắn nhất trong lịch sử Trung Quốc”.

Nhưng cách hành xử ấy của Tào Tháo đã uy hiếp nền chính trị của vương triều phong kiến. DO vậy từ triều Tống trở về sau, các hoàng đế trong lịch sử ít khi khen ngợi Tào Tháo, ngược lại, Quan Vũ được xem là hoá thân của con người trung nghĩa, được đưa lên tôn sùng tột bực. Vua Càn Long đời Thanh thậm chí còn phong Quan Vũ làm Quan Đế, lập đền thờ cúng ở khắp nơi. Có thể nói, việc này mang nhiều ý tứ tuyên truyền cho cương thường luân lý phong kiến. Đặc biệt là tới hoàng đế Càn Long triều Thanh, khi đặt cho Tào Tháo cái danh “thoán nghịch” (thoán đoạt phản nghịch), mặt khác lại xây Miếu Quan Đế cho Quan Vũ. Cách nhận định đánh giá kiểu quan phương chính thức này từ đó đã trở thành một giới luật chính trị vô hình của triều Thanh.

Tường Châu (báo điện tử VietNamNet - theo Thanh niên báo)