Thursday, September 2, 2010

Lục sát tinh: bộ Linh Hỏa

Cặp Linh-Hỏa đang sợ cho những người nào ?
Gặp sao nào mới tốt, sao nào mới chỉ huy được cặp Linh-Hỏa đó ?


Cặp thứ ba trong Lục sát tinh là Hỏa-Linh (Hỏa tinh và Linh tinh). Lối an sao khiến cho tuổi nào cũng có thể gặp Linh Hỏa (cũng có tuổi không gặp). Có khi Linh-Hỏa đủ bộ, có khi Linh-Hỏa không đủ bộ và chỉ cần có một Linh hay một Hỏa tại Mạng hoặc tại cung Đại Vận. Những Linh và Hỏa cùng mạnh đến độ chỉ gặp một Linh hay một Hỏa cũng đã đủ ảnh hưởng.

1. NHỮNG TUỔI BỊ HỎA, LINH
– Hai sao Hỏa và Linh, thuộc Hỏa, rất kị các tuổi Canh, Tân (hàng Can) và Thân (hàng Chi), và những người Mệnh Kim.

– Gặp Linh, hoặc gặp Hỏa (1 trong hai sao) tại Mệnh hay tại Đại-Vận, thì những người tuổi Canh, Tân, Thân hay mệnh Kim, là phải coi chừng !.

– Gặp tại Đại Vận, hay gặp những rắc rối, những khó khăn.

– Gặp tại cung Mệnh, cuộc đời khó khăn, vất vả, phải cố gắng rất nhiều mới thành đạt, hoặc có khi khá lên mà rồi lại hỏng.

2. SAO NÀO MỚI TRỊ ĐƯỢC HỎA, LINH
Tuy nhiên, Hỏa Linh không phải hoàn toàn xấu. Chúng là một sức mạnh, để tự nhiên không người hướng dẫn thì sức mạnh đó tác hại, nhưng nếu có sự hướng dẫn thì sức mạnh đó lại hướng vào những cái tốt đẹp, phù giúp cho đương số. Điều này cũng y như cặp Không-Kiếp phải được gặp Phá Quân mới tốt, và cặp Kình-Đà phải được gặp Thất Sát.

Các sát tinh đó cũng như những đạo quân hùng mạnh, những đạo quân đó phải có chỉ huy giỏi và mạnh thì mới được việc hay. Nếu không có chỉ huy mạnh và sáng suốt, sức hung hãn của các đạo quân sẽ đáng sợ.!

Hỏa và Linh phải gặp Tham Lang mới tốt.

Tham Lang mới vận dụng được sức lực, mới cai trị và chỉ huy được Hỏa và Linh.

3. CẦN PHẦN BIỆT
Nhưng nên chú ý ở chỗ Tham Lang gặp Hỏa hay gặp Linh, mỗi đàng có một nét riêng biệt.

Tham Lang gặp Hỏa, thì được phú hơn là quý. Ví dụ: Ở mệnh có Tham Lang và Hỏa-tinh là tốt, đương số được giàu có (hơn là được công danh). Mệnh có Tham Lang gặp Linh- tinh, thì đương số có chức phận lớn, có công danh (hơn là được giàu có, tức là phần tiền bạc bị kém).

4. NHỮNG TRƯỜNG HỢP BỊ HỎA-LINH CHƠI ĐỘC
– Như trên đã nói, Hỏa-Linh tại Mệnh hay Hỏa Linh tại Đại Vận đều có ảnh hưởng lớn (cho bốc lên hay phá tán). Tuổi Canh, Tân, tuổi Thân, hay người Mệnh Kim gặp Linh, Hỏa thì bị nặng như đã nói. Ngoài ra, người có Mệnh Cơ-Lương, gặp Linh-Hỏa cũng bị nặng.

– Phải Sát, Phá, Tham mới chỉ huy được Linh-Hỏa. Như thế, Linh-Hỏa ở Đại Vận gặp Sát, Phá, Tham thì tốt, mà người Mệnh Sát, Phá, Tham đến cung Đại Vận có Hỏa, Linh cung không sao.

– Mệnh Tử Phủ, gặp Hỏa-Linh (tại Mạng hay tại Đại Vận), cũng bị ngăn trở đụng thêm Không Kiếp, càng hỏng.

– Mệnh Vũ-Khúc, Thiên Lương gặp Hỏa-Linh thì không sao.

– Thiên Tướng không sợ Hỏa, Linh, Không, Kiếp. Như thế, Mệnh Thiên Tướng gặp các sao đó chẳng sao. Người ở Mệnh có Thiên Tướng, đến Đại Vận gặp 4 sao xấu đó, không sao. Thiên Tướng chỉ sợ có Hình, Kình, Đà (nên nhớ là Đà La ở Thìn Tuất, vì ở Thìn Tuất, Đà La mới có ảnh hưởng là lưới trời ngăn cản công việc, công danh, tiền tài … của đương số).

Đạo quân :
Theo lời cụ Thiên Lương :

– Không Kiếp như đạo quân nhảy dù

– Kình, Đà như đạo quân của Thủy Quân Lục Chiến

– Linh Hỏa như một đạo quân riêng biệt.

Ở một mình, không có chỉ huy mạnh và giỏi (hãm địa), chúng có sức tác hại mạnh mẽ, sai lạc. Nhưng gặp được chỉ huy giỏi có đất dụng võ hay, chúng lại có sức mạnh lớn, giúp ích cho đương số rất nhiều.

– Không Kiếp phải được Phá Quân

– Kình Đà phải được Thất Sát

– Linh Hỏa phải được Tham Lang

Có Tướng hay thì quân phải giỏi, phải giúp cho đương số lên mạnh.

Kinh nghiệm tử vi Thiên Lương: lục sát tinh Kình Đà

Sau bộ Không Kiếp, đến bộ Kinh Đà (Kình Dương, Đà La). Cũng như Không Kiếp có đắc địa mới ăn. Kình Đà chỉ ăn ở các cung đắc địa. Và phải có chính tinh chỉ huy. Như Phá Quân cùng Không Kiếp đắc địa thì ăn lớn, Kình phải có Thất Sát mới ăn to. Kình, Đà đứng hai bên Lộc Tồn, cho nên không có trường hợp đồng cung. Chiếu thì lại không ăn to. Phải đóng ngay tại Mạng hoặc tại cung mà thôi. Cho nên cần phần biệt các trường hợp riêng rẽ.

1. TRƯỜNG HỢP KÌNH DƯƠNG
Ai cũng biết rằng có cách Hình, Sát thì oai hùng. Hình là Thiên Hình. Sát là Thất Sát. Được cách Hình Sát tại Mạng thì phát công danh lớn, thường về võ nghiệp.

Kình, Sát (Kình Dương, Thất Sát) cũng được hưởng như Hình, Sát (vì Kình đóng vai hình)

Về cách này, xin chú ý :
– Kình phải đóng tại Mạng cùng với Thất Sát mới được.
– Hoặc là Mạng có Thất Sát, thì đến Đại Vận có Kình là ăn. Nếu chỉ gặp Đại Vận có Kình chiếu thì cũng hưởng, nhưng kém hơn
– Phải là Thất Sát mới chỉ huy được Kình, tức là mới vận dụng được Kình. Trong bộ Sát, Phá, Tham chỉ có Thất Sát mới chỉ huy được Kình, còn các sao khác kém hơn, không đủ sức chỉ huy.
– Kình phải đắc địa tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì mới có ảnh hưởng tốt.

Trong bài bàn về Không Kiếp Chúng tôi đã ghi rằng bộ Phá Quân, Không Kiếp đắc địa rất mạnh. Bộ Thất Sát, Kình cũng mạnh, nhưng kém hơn bộ Phá Quân, Không Kiếp. Nhưng kinh nghiệm lại cho biết rằng bộ Sát, Kình tuy ảnh hưởng kém mạnh, nhưng lại hay hơn bộ Phá Quân, Không Kiếp, là vì nó “phù hẳn”, chứ không “tráo trở” không phù mạnh rồi hạ xuống.

a) Nếu không có Thất Sát
– Mệnh phải có Thất Sát, mới vận dụng được Kình.
– Nhưng nếu không có Thất Sát, thì có Phá Quân cũng tạm được, nhưng ảnh hưởng tốt, kém Thất Sát.

b) Họa hại vì Kình
Kình Dương kị các tuổi : Dậu, Tuất, Hợi.
– Ba tuổi đó đến Đại vận có Kình Dương là gặp họa hại, phải coi chừng.
– Ba tuổi đó, Mạng có Kình Dương, cũng phải coi chừng những họa hại.

2. TRƯỜNG HỢP ĐÀ LA
Đà La đắc địa tại : Dần, Thân, Tị, Hợi, ở cung Mạng Vô Chính Diệu, Không có Tuần Triệt là Đà La độc thủ, rất anh hùng. Tức là cho đương số phát mạnh, phát lớn, phần nhiều về võ nghiệp. Nhưng phải là người Kim Mệnh hay Thủy Mệnh thì mới ăn; chứ người Hỏa thì lại không được.

Trong trường hợp trên, Đà La độc thủ đã trở thành chính tinh, rực rỡ, cho nên phải không có Tuần Triệt tại đó mới được, có Tuần Triệt lại hỏng mất cách hay.

3. TRƯỜNG HỢP XẤU CỦA ĐÀ LA
Đà La ở hai cung Thìn, Tuất đóng vai trò La Võng chi địa.

Không phải cứ hai cung Thìn, Tuất là Thiên La, Địa Võng, tức là lưỡi trời ràng buộc các đương số, phải có Đà La đóng đó mà Đà La là lưới trời, thì hai cung đó mới là hai cung lưới trời trói buộc. Do đấy đừng thấy Mạng đóng tại Thìn Tuất mà bảo rằng Mạng bị ràng buộc. Mạng tại Thìn Tuất, mà có Đà La thì mới bị ràng buộc (phải Đà La ngay cung Mạng, chứ Đà La chiếu sang Mạng cũng không sao)

Đà La là lưới tại Thìn, Tuất thì các sao khỏe ở đấy như như Tử-Tướng, Phá Quân bị trói lại, không thi thố được nữa. Những sao yếu, hiền lại không bị Đà La trói buộc.

Cũng như Kình đóng vai trò của Thiên Hình, Đà đóng vai trò của Hóa Kị.

4. CÁCH AN KÌNH, ĐÀ
Theo kinh nghiệm của cụ Thiên Lương, cách an Kình Đà có hơi khác các sách, nhưng hợp lý ở chỗ phân biệt Âm, Dương.

Kình, Đà ở hai bên có Lộc Tồn, và theo nguyên tắc “Tiền Kình, hậu Đà”. Nhưng hướng trước sau phải tùy theo người tuổi Âm hay tuổi Dương. Như tuổi Âm thì an theo chiều ngược lấy chiều đó rồi, thì Kình đi trước cung có Lộc Tồn, và Đà La đi sau cung có Lộc Tồn. Ví dụ tuổi Ất Mùi, Lộc Tồn ở Mão thì Kình ở Dần, Đà La ở Thìn.. Tuổi Dương thì theo chiều Dương, và theo chiều đó, như tuổi Giáp Dần, Lộc Tồn ở Dần, thì Kình ở Mão, Đà La ở Sửu.

Theo cách an đó, nhớ là Kình Lực luôn luôn đi với nhau. Chỗ nào có Lực Sĩ là có Kình Dương.

(Phước Duyên)

Tính cách theo 12 cung hoàng đạo - Cung Dương Cưu - Aries


Dương Cưu (Aries – Con Cừu Đực, 21/3 - 20/4) là cung mệnh đầu tiên của vòng Hoàng Đạo, nó biểu trưng cho sự sống. Con Cừu chỉ nghĩ về mình. Nó là một đứa trẻ, và như mọi con trẻ khác, nó hoàn toàn chìm đắm trong cái Tôi của bản thân. Những gì nó quan tâm phải được đặt lên trên hết.
Khi đứa bé bị ướt bỉm hoặc đói, nó gào toáng lên đòi hỏi những gì cần làm. Con Cừu cũng vậy. Nếu cần gì, nó không ngần ngại gọi điện thoại cho bạn vào 4 giờ sáng. Bạn đang ngủ ư? Tại sao bạn có thể yên chí ngủ trong khi nó thì đang thao thức? Không được, hãy vui lòng dậy kiếm những gì nó cần. Thực sự như một đứa trẻ, Dương Cưu coi thế giới xung quanh chỉ là một phụ lục cho bản thân mình. Thế nhưng chẳng bao giờ có ai bảo đứa trẻ là ích kỷ. Với Con Cừu cũng như vậy. Nó tự nhiên và chân thành trong mọi biểu hiện của mình, đến nỗi điều đó dường như làm cho sự ích kỷ và hung hăng của nó lại có một vẻ đẹp nào đó.

Trong tính cách Dương Cưu không có một dấu hiệu nhỏ của sự láu cá. Và nó cứ như thế trong cả cuộc đời - cả tin, lầm lỡ, rồi lại cả tin lần nữa. Mọi giận buồn sẽ quên đi trong chốc lát nếu nó được ai đó an ủi, vỗ về. Tính cách đó không có gì bí ẩn hay phức tạp: người đó trước mặt bạn, tất cả rõ như lòng bàn tay.

Có một số đặc điểm để nhận dạng Dương Cưu. Họ thường có một gương mặt sáng láng; màu tóc khi ở dưới ánh sáng mặt trời thường hơi hoe nhạt; mặt và đầu hay có nốt ruồi, hoặc vết sẹo. Cử chỉ nhanh nhẹn và khéo léo. Tốc độ tư duy của họ cũng nhanh như vậy. Con Cừu có khung xương nhỏ và chắc, khi đi, hay đổ người về phía trước, như thể đang bay. Không thể nói Dương Cưu có một dáng người kiều diễm mặc dù sự khéo léo của nó để thoát khỏi những tình thế gay go rất hay gây khó khăn cho những kẻ xem thường nó. Nhìn chung, ngoại hình của Dương Cưu toát lên một sự tự tin và tự kỷ vô biên.

Nếu bạn gặp một Dương Cưu buồn rầu ủ rũ, thì chắc chắn người đó đã bị làm tổn thương sâu sắc và cần phải có thời gian để bình phục. Nhưng hãy tin rằng người đó chắc chắn sẽ bình phục. Không có gì trên đời có thể làm cho Dương Cưu suy sụp hoặc mất đi tính cách. Chắc chắn đây không phải là một người bi quan.

Những ai được sao Hoả bảo trợ bao giờ cũng nhìn thẳng vào mắt bạn với một sự chân thành dễ thương và một sự cả tin đến mủi lòng. Bạn là người rất thân của anh ta mà. Bạn thực lòng yêu quý anh ta, đúng không? Không phải ư? Nước mắt đã trực dâng trào trong mắt Dương Cưu, nhưng người đó kiềm chế được. Còn nếu có lúc bạn thấy Con Cừu khóc vì bạn thì đó là bạn đã làm nó tổn thương sâu đến tận trái tim. Dương Cưu thà chết chứ không chịu để kẻ khác nhận thấy những yếu đuối của mình. Đôi khi người này thực sự mạo hiểm tính mạng chỉ để không ai nghĩ rằng anh ta chưa đủ dũng cảm.

Nói chuyện với ai, Dương Cưu thường nhìn thẳng mặt họ. Còn nếu đưa ánh mắt đi chỗ khác, thì điều đó có nghĩa đơn giản là anh ta không hứng thú với câu chuyện. Vào thời điểm đó đã có điều gì khác thu hút chú ý của Dương Cưu và anh ta không định che giấu việc đó.

Dương Cưu sẽ dốc hết sức để giành vị thế dẫn đầu trong sự nghiệp mình lựa chọn. Một Dương Cưu thất bại dễ nhận biết được qua vẻ bất mãn khi phải tuân thủ kẻ khác. Một Dương Cưu chiến thắng thì tính tình thoáng đãng và đặc biệt hào phóng, nhưng thầm mong mọi người xung quanh phải hát vang ngợi ca mình.

Mặt khác, điều mà bạn có cố mấy cũng không bao giờ tìm thấy ở Con Cừu là sự tế nhị và khiêm tốn. Khi Chúa Trời ban phát những phẩm chất này, Con Cừu đang ở đâu đó rất xa. Giả dối, quanh co hoàn toàn không phải là thuộc tính của những người được sao Hoả phù trợ. Thẳng thắn và tuyệt đối chân thành – đó là tấm danh thiếp của Dương Cưu, mặc dù những phẩm chất này rõ ràng không phải lúc nào cũng là ưu điểm.

Trong một số hoàn cảnh, người sinh cung Dương Cưu có thể là những kẻ vô trách nhiệm. Đó là khi đứng trước điều gì đó hứa hẹn đầy hấp dẫn, hoàn toàn cuốn hút sự quan tâm, họ có thể bỏ quên trách nhiệm của mình. Những người chịu sự quản chiếu của sao Hoả thường bị trách cứ là quá khó tính. Điều đó có phần đúng. Nhưng họ không thù dai, không buồn lâu, và thường ngạc nhiên khi thấy người nào mãi không quên được giận.

Mặc dù tính cách Con Cừu quyết đoán, tháo vát và quả cảm, nhưng cũng có những thứ nó sợ. Người này không run sợ khi phải đối mặt kể cả khủng long, nhưng lại không chịu được đau đớn về thể xác. Hoàn toàn không phải kẻ hèn nhát, nhưng người này rất nhạy cảm với những vết thương, đau đớn dù nhỏ nhất. Các bác sĩ răng thực sự là kẻ thù của Con Cừu.

Dương Cưu hay bị những vết thương nhỏ, đứt tay, bỏng, có lúc sa vào chuyện phiêu lưu ẩu đả. Bệnh thường gặp ở người sinh cuối tháng 3 - nửa đầu tháng 4 là các chứng đau đầu, thận, xương khớp, và đặc biệt là hay cảm cúm. Dương Cưu nên quan tâm giữ sức khoẻ, thường xuyên khám nha khoa, kiểm tra mắt, ăn uống đúng mực, không để lạnh đầu, và cố gắng tránh lạm dụng rượu bia (là thứ chống chỉ định đối với những người sinh dưới ảnh hưởng của sao Hoả). Nhìn chung Con Cừu có một cơ thể rắn chắc và dẻo dai nếu nó không đam mê làm gì vô độ, điều mà đáng tiếc là Con Cừu thường phạm phải.

Nếu bạn nhìn thấy Dương Cưu phải nằm trên giường thì hãy hiểu rằng tình trạng của người đó quả thật là tồi tệ. Nhưng kể cả trong trường hợp như vậy cũng phải dùng sức mà giữ Dương Cưu trong giường để anh ta không chuồn đi đâu mất. Nhờ có một cơ thể khoẻ mạnh, Con Cừu có khả năng bình phục trong những điều kiện mà những người khác lẽ ra đã chết từ lâu. Nguyên nhân chính khiến Con Cừu có thể bị bệnh nặng là tính bướng bỉnh, không chịu tuân theo lời khuyên đúng đắn của người khác. Đáng tiếc là thái độ như vậy với sức khoẻ rất điển hình ở Dương Cưu. Thống kê cho thấy những người sinh cung này hầu như hoàn toàn không có thiên hướng tới chất ma tuý. Họ cũng rất ít khi sử dụng thuốc men, kể cả thậm chí những loại thông thường như thuốc cảm, đau đầu.

Nhờ bản chất lạc quan không gì lay chuyển, Dương Cưu (cùng với hai cung mệnh hoả khác – Sư Tử và Nhân Mã) rất hiếm khi mắc bệnh trầm cảm. Sự suy thoái tinh thần, nếu thậm chí có cơ sở để xảy ra, thì ở Dương Cưu nó cũng sẽ qua nhanh, không để lại vết tích gì.

Bản tính chân thật, Dương Cưu không có khả năng làm những tiểu xảo xã giao. Người này thường phải mất một nửa cuộc đời để học được phép giao tiếp tối thiểu. Nhưng một khi đạt được điều đó, cộng với khả năng trực giác thiên bẩm và tiềm năng sáng tạo to lớn, thành công của anh ta sẽ thực sự là kỳ vỹ. Có một thực tế đáng ngạc nhiên là người thuộc cung mệnh này thường mang lại sự giàu có không phải cho bản thân mà cho người khác. Đa số họ cả đời không có một mái ấm riêng, mà chỉ thuê nhà hay căn hộ làm nơi cư ngụ. Nhưng xem ra, chạy đuổi theo tiền bạc không phải là mục đích chính của Dương Cưu.

Mặc dù tự tin thẳng bước về phía trước ít quan tâm đến cảm xúc của người khác, mặc dù thái độ đối với mọi thứ có thể diễn đạt ngắn gọn bằng khẩu hiệu “trước hết phải là tôi…”, Dương Cưu lại là một trong những cung hào phóng và rộng lượng nhất của Hoàng đạo. Trong con người này không có sự tàn nhẫn. Anh ta thành thật tin rằng mình có thể làm bất kỳ việc gì tốt hơn mọi người khác. Nếu Dương Cưu buộc phải lựa chọn giữa vinh quang và giàu có, người này sẽ không do dự chọn cái thứ nhất. Điều đó không có nghĩa là anh ta xem thường tiền bạc, hoàn toàn không. Đơn giản là vinh quang có giá trị với anh ta hơn.

Trong con người Dương Cưu có sự chung sống kỳ lạ của hiện thực và lý tưởng. Hiếm ai có thể biểu hiện sự kiên định và bản lĩnh như vậy, nhưng đồng thời cũng hiếm ai lãng mạn, thơ mộng và tin tưởng vào những điều kỳ diệu đến như thế. Những người được sự quản chiếu của sao Hoả hoàn toàn không có khả năng thừa nhận thất bại, kể cả khi nó đã quá rõ ràng. Họ tin vào một kết cục có hậu – dù trong tình yêu hay trong trận đấu bóng đá. Vốn là những đấu thủ có năng khiếu, Dương Cưu trong các cuộc chơi thường chỉ dựa vào sức mình. Họ luôn muốn tự mình giành lấy chiến thắng. Điều đó giải thích tại sao bạn hầu như không gặp Dương Cưu trong vai trò kẻ ăn xin, hay trong danh sách trợ cấp khó khăn.

Mặc dù dễ giành được thiện cảm của người khác, điều mà đối với sự nghiệp chính trị là rất quan trọng, rất ít Dương Cưu trở thành chính khách giỏi. Với một Dương Cưu điển hình, chính trường không phải là chỗ tốt nhất để thể hiện thế mạnh. Trước hết là vì Dương Cưu không mạnh về kinh doanh. Thứ nữa là vì người này không biết kiềm chế trong phát ngôn, căm thù mọi sự hạn chế và giả tạo. Sở trường của Dương Cưu là hoạt động sáng tạo. Nếu không có tính độc đáo, nghị lực và sức mạnh tinh thần của Dương Cưu, nhiều dự án có thể sẽ không thực hiện được hoặc sẽ mang một dáng vẻ hoàn toàn khác, tẻ nhạt hơn.

Kim loại hợp với Dương Cưu là sắt – mang lại cho cung này sự cứng cỏi và sinh lực nhiều gấp bội các cung khác. Lửa, rực cháy trong tâm hồn Dương Cưu, soi sáng đường lên phía trước và tạo lòng tin cho những người theo cùng.

Dương Cưu là người mở đường tiên phong, dẫn người khác tiến tới những mục tiêu cao cả. Đức tin của người này trong sáng, không chút pha tạp bởi đạo đức giả hoặc lòng tham. Dương Cưu hiếm khi là chủ nhân của những tài sản lớn, nhưng nếu điều đó xảy ra thì người này cũng không bao giờ bận tâm khư giữ chúng. Anh ta vui lòng chia sẻ tất cả báu vật của mình cho người khác với niềm tin rằng những gì đã chi tiêu ra sẽ quay trả lại gấp bội phần. Mang đến niềm vui cho mọi người – đó là một trong những mục đích chính của Dương Cưu. Người này chân thành tin chắc rằng cuộc sống chứa đầy những diệu kỳ, và người này sung sướng được chia sẻ những điều tuyệt vời đó, nếu tất nhiên chính bạn cũng muốn như vậy.

Danh nhân sinh cung Dương Cưu:

Hans Christian Andersen, Johann Sebastian Bach, Jean Paul Belmondo, Otto von Bismarck, Marlon Brando, Mariah Carey, Charlie Chaplin, Eric Clapton, Francis Coppola, Joan Crawford, Bette Davis, Celine Dion, Hoàng Hậu Elizabeth II, Vincent Van Gogh, Alec Guiness, Joseph Haydn, Thomas Jefferson, Elton John, Sergei Khrushchev, Sergei Prokofiev, Joseph Pulizer, Sergei Rakhmaninov, Konstantin Stanislavski, Arturo Toscanini, Peter Ustinov.

Bài viết của bác VuiVui

-----------------------------------------------------------------------------------------------

Để hiểu về sao Hoá kỵ, chúng ta nên xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau:

-Trước hết chúng ta đều biết sao Hoá kỵ là một trong bốn sao thuộc nhóm Tứ Hoá, gồm: Hoá khoa, Hoá quyền, Hoá lộc và cuối cùng là Hoá kỵ. Hành của các sao này như sau: Hoá khoa hành thuỷ, Hoá quyền hành Mộc đới Kim, Hoá lộc hành Mộc đới Thổ, và Hoá kỵ hành Thuỷ. Qua hành của bốn sao này, chúng ta thấy ngay rằng Hoá khoa và Hoá kỵ là gốc của Bộ Tứ Hoá, chia ra làm hai phần con người: Hoá khoa thuộc về những gì gọi là phẩm hạnh, đạo đức và trí tuệ. còn Hoá kỵ đại diện cho những gì không trong sáng, úp úp mở mở.

-Trong bộ Tứ Hoá, Hoá kỵ đứng đầu về tác dụng, Hoá kỵ đứng với Hoá khoa cũng làm cho Hoá khoa mất đi vẻ đẹp của nó, khiến cho đương số dù có tài cao học rộng cũng không thi thố được với đời. đứng cạnh Hoá quyền thì làm cho quyền u tối. Đứng cạnh Hoá lộc thì khiến cho Hoá lộc mờ ám khuất tất. tiếng rằng Hoá khoa được coi là đệ nhất giải thần, song thực tế khó chấp nhận được quan điểm này.

-Về đặc trưng thì sao Hoá kỵ đại diện cho sự mờ ám, lắt léo, khéo che đậy. cho dù ở vị trí đắc địa cũng không ngoại lệ, chỉ có sự thể hiện sao cho phù hợp với quan niệm về đạo đức mà thôi.
Trên cơ sở đó chúng ta có thể nghiên cứu một cách đại lược về sao Hoá kỵ.

-Sao Hoá kỵ theo nhiều tài liệu nói rằng có những vị trí đắc địa sau: Hợi, Tý, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. song vuivui cho rằng chỉ có 4 vị trí đắc địa là Hợi, Tý, Sửu, Mùi, song đứng đầu là vị trí ở Hợi. như đã nói ở trên, Hoá kỵ dù đắc địa , bản chất của nó vẫn là ám tinh, ưa điều lắt léo, nhưng khi đắc địa thì thông minh, giỏi che đậy, vì thế nếu đi chung với Khoa-Lương thì như trong cuốn tử vi hàm số có nêu "là người có đức độ, danh vọng, được quân dân quý mến, có thể là một nhà hiền triết, nhân sĩ, dân biểu, nghị sĩ hữu danh" điều đó vuivui cũng đồng ý, song bản chất có khác một chút, khi Hoá kỵ đắc địa đi với Khoa-Lương thì tính chất đức độ và tác phong quân tử không bằng Khoa-Lương đi riêng, song sự thành đạt ở đời thì người có Kỵ-Khoa-Lương sẽ hơn, có thể tóm tắt cách cục này bằng nhận xét sau:

Nếu có một người bạn có cách Khoa-Lương thì có thể kết thành tri kỷ được, còn người có Kỵ-Khoa-Lương thì không nên. Nếu bạn muốn dùng người, thì nên dùng người có Kỵ-Khoa-Lương vào những việc bên ngoài, không nên dùng họ ở bên mình.

-Hoá kỵ rất nhạy cảm với dòng sao Nhật-Nguyệt, vì thế sự tác hoá của nó đối với nhóm này rất tinh tế. ở vị trí Sửu thì hợp với Thái dương hơn Thái âm, ở vị trí Mùi thì hợp với Thái âm hơn Thái dương, người sinh ở gần xích đạo thì rực rỡ và nhiệt tình, giỏi xét đoán lòng người (ở Sửu), ở xa xích đạo thì đẹp đẽ nhưng trầm tĩnh mà khôn khéo. vuivui đã có dịp kiểm chứng trên một số người sinh ra ở những quốc gia khác nhau như Braxin, Argentina, VN, Poland, India, Rusia.

Những ưu khuyết điểm và phức tạp về "MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU"

Bài viết này của bác Phước Duyên:

---------------------------------------------------------------------------------------

Trong nhiều sách Tử Vi, cũng như các diễn đàn tử vi, sách báo KHHB đã có nhiều lần bàn về “ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU” ; nhưng về đề tài này rất bao la nên tôi tưởng không phải là vô ích khi đưa ra những chi tiết và kinh nghiệm dưới đây để qúy bạn tìm hiểu dễ dàng và chính xác hơn về Mệnh Vô Chính Diệu.

Thực vậy, từ trước đến nay, mỗi khi gặp trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu, chúng ta thường thường chỉ biết căn cứ vào những câu phú quen thuộc như :


– Mệnh Vô Chính Diệu phi yểu tắc bàn.

– Mệnh Vô Chính Diệu đắc tam không nhi phú qúy khả kỳ.

– Tam không độc thủ phú qúy nan toàn.

– Xét xem phú qúy mấy người, Mệnh Vô Chính Diệu trong ngoài tam không …


Chứ làm gì có một hệ thống hoặc tài liệu chi tiết nào về trường hợp trên, đành rằng có những nhà tử-vi rất thông suốt về Mệnh Vô Chính Diệu nhưng rất tiếc các vị đó lại không chịu đem ra cống hiến. Vì vậy tôi mạo muội gom góp những chi tiết đã thâu lượm được và tạm chia làm hai phần :

– Những ưu khuyết điểm về Mệnh Vô Chính Diệu.

– Những điều phức tạp về Mệnh Vô Chính Diệu.


I/- NHỮNG ƯU KHUYẾT ĐIỂM VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU

A- Những khuyết điểm


Hầu hết các nhà tử-vi đều không khen những lá số có cách Vô Chính Diệu tại mệnh vì những cách này có nhiều khuyết điểm hơn là ưu điểm. Những khuyết điểm chính như sau :


1)- Căn bản không vững


Căn bản ở đây không có nghĩa là nói về khả năng hoặc tài năng mà chỉ có nghĩa là môi trường của mình. Mệnh Vô Chính Diệu (tức là không có chính tinh thủ mạng) bao giờ cũng phải tuỳ thuộc vào chính tinh ở cung xung chiếu, và khi đã phải tuỳ thuộc tức là không có căn bản vững, hoặc nói nôm na là không có gốc. Nếu không được cung xung chiếu có sao tốt lại phải hướng sang hai cung hợp chiếu (Tài và Quan) mà ảnh hưởng sẽ yếu hơn nhiều và do đó môi trường của Mệnh lại càng bấp bênh hơn nữa. Vì vậy, dù cho người Mệnh Vô Chính Diệu có tài năng, thông minh (do các yếu tố tử-vi khác cho hưởng) rất dễ bị thăng trầm về sự nghiệp khi gặp Đại Tiểu hạn giao động mạnh, không khác gì căn nhà không có cửa bị cơn gió lốc thổi thốc vào làm tan tác cả căn nhà, trừ trường hợp có Tuần Triệt án ngữ thì đỡ hơn nhiều.


2)- Không đóng vai trò chính


Như trên đã nói, Mệnh Vô Chính Diệu không khác gì căn nhà không có cửa dễ bị ảnh hưởng của thời tiết cũng như ngoại cảnh. Do đó người Mệnh Vô Chính Diệu (dù Đắc Tam Không) không thể và không nên giữ vai trò chính trong bất cứ lĩnh vực, cảnh ngộ nào, từ xã hội, gia đình cho đến hôn nhân. Gặp trường hợp này nên cam phận làm “phó” thì yên thân, nếu làm chính dễ bị mất chức. Riêng tôi, tôi còn nói thêm rằng ngay trong gia đình cũng vậy, người Mệnh Vô Chính Diệu cần phải là con thứ hoặc nếu chẳng may là con trưởng thì cần phải là con bà vợ sau của cha mình (tức là bà vợ chính không có con trai). Như thế mới có thể sống lâu hoặc mới có công danh khá được. Thậm chí đến vấn đề hôn nhân, người Mệnh Vô Chính Diệu nên chịu làm “kẻ đến sau” thì cuộc sống dễ thịnh vượng hơn, còn trường hợp vợ mình là chính chuyên thì đương nhiên bị thiệt thòi về sự nghiệp. Đó là một điểm “hận” lớn lao cho người Mệnh Vô Chính Diệu. Kể ra cũng chẳng có gì khó hiểu, vì khi căn nhà trống (vô chính diệu) thì ta một cái vật gì đó che bớt cho khuất gió, tuy hơi trở ngại nhưng đỡ bị tan tác khi có gió mưa lớn. Về người cũng vậy, nếu có người khác “đứng mũi chịu sào” thì khi gặp trách nhiệm lớn lao mình làm phó đâu có chịu khuyết điểm nhiều hoặc gánh vác nhiều dù cho mình có nhiều khả năng đi nữa. Còn về hôn nhân tuy không đặt vấn đề trách nhiệm nhưng phải có cái gì đó “án ngữ“ gián tiếp như là Tuần Triệt vậy.

3)- Khó phát sớm

Trừ một vài trường hợp đặc biệt, tôi nghiệm thấy những người mệnh vô chính diệu đều không phát khi còn trẻ, không khác gì một cái cây non khi mới nẩy mầm nơi đất xấu, phải trông cậy vào phân bón hoặc mưa nắng thuận hòa mới dần dần vươn cao, có hoa có lá. Vì vậy, nếu qúy bạn có Mệnh Vô Chính Diệu cũng đừng bao giờ qúa thất vọng khi thấy sự nghiệp, công danh của mình phát chậm, miễn là những đại vận từ trung vận trở đi không quá tệ. Nếu qúy bạn nào phát sớm trong trường hợp này tưởng cũng không nên qúa mừng và tự tin vì không khác gì “hoa sớm nở tối tàn” về công danh cũng như về tuổi thọ. Để cho dễ hiểu, tôi xin đơn cử một thí dụ : một đứa bé sơ sinh nếu ra đời non hoặc qúa yếu đuối ngay từ lúc lọt lòng mẹ, nếu cứ cho uống đủ các thứ thuốc bổ để mau mập mạp, khoẻ mạnh thì không thể đúng cách bằng nuôi nấng một cách điều độ cho khoẻ mạnh lần lần. So với Tử vi cũng vậy, nếu Mệnh Vô Chính Diệu mà gặp ngay Đại Hạn kế tiếp thật tốt rồi những đại hạn sau xấu thì không thể nào hay bằng đại hạn kế kém, những đại hạn sau đó tốt đẹp để cho mệnh đủ thời gian hấp thụ các sao ở cung xung chiếu và chiếu về, như thế mới đủ khả năng sử dụng các đại hạn tốt một cách vững bền.

4)- Nghị lực kém:

Khuyết điểm sau chót của người Mệnh Vô Chính Diệu là khó lòng họ có can trường hoặc tinh thần dũng mãnh, cương nghị dù có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng vậy. Điều này cũng rất dể hiểu vì khi mình nhờ vả ai (tức là Mệnh nhờ các cung chiếu) thì mình phải chịu ảnh hưởng của người đó, nếu không muốn nói là lệ thuộc và khi đã ở cảnh ngộ như thế thì làm sao giữ vững được lập trường. Tuy nhiên nếu Mệnh chịu ảnh hưởng của cung Tài Quan nhiều hơn thì việc lệ thuộc cũng nhẹ hơn nhiều, vì Tài Quan là các cung của cá nhân mình, thì chỉ ngại cung Thiên Di, nếu có các chính tinh dùng cho Mệnh được nhiều thì sự lệ thuộc vào ngoại giới sẽ mạnh mẽ hơn vì cung Thiên di tiêu biểu cho giới giao thiệp, bạn bè trong xã hội (Ví du như : Lá số). Vậy quý bạn cần chú ý đến điểm này khi cân nhắc luận bàn đến nghị lực của người Mệnh Vô Chính Diệu.

Mệnh VCD cũng có cái hay của nó, nếu chỉ suy nghĩ theo thực tế mà chưa cần xét đến ưu khuyết. Nếu đó là người có ý chí hơn những người khác vượt qua mọi khó khăn thì xem như cuộc sống này đem lại thử thách thôi. Còn nếu có sát tinh thì tốt chứ sao, sao cứ nghĩ là VCD thì như căn nhà không nóc. Vậy thì chắc gì chính tinh đã không bị phá cách. Biết đâu nhà không nóc này lại có cả bầu trời là cái nóc lớn che phủ, an toàn biết mấy Ngất nhỉ, lo gì, dựa lưng vào KL mà sống đê.

B- Những ưu điểm

Chắc qúy bạn nào có Mệnh Vô Chính Diệu sau khi đọc những điểm trên đây đều thất vọng cho số phận của mình, nhưng thực ra con người Mệnh Vô Chình Diệu lại có những điểm độc đáo khác mà những người khác ít khi có.

1)- Đa năng mẫn tiệp

Khi Mệnh đã “bỏ ngõ” tuy dể bị ảnh hưởng của các sao xấu bên ngoài nhưng cũng tiếp nhận dễ dàng những tinh hoa của các cách tốt chiếu về, nếu có. Do đó, người Mệnh Vô Chính Diệu khi lớn tuổi thành công dễ dàng nhưng tuần tự trong mọi lãnh vực do khả năng tìm hiểu học hỏi bằng kiên nhẫn của mình, mức độ thành công còn tùy thuộc vào các cách tốt trong lá số tử vi. Vì vậy, trong nhiều sách như cuốn Tử-Vi Đầu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang đều nói rằng người Mệnh Vô Chính Diệu khôn ngoan sắc sảo là thế. Nếu qúy bạn là Chủ nhân hay Giám đốc thì nên dùng người Mệnh Vô Chính Diệu vì họ rất chịu khó học hỏi, có lương tâm nhà nghề, có óc cầu tiến nhưng đừng bao giờ dùng họ trong vai trò chủ chốt như đã nói trên để cho họ khỏi bị mất chức. Đến như Khổng Minh kia (cung Mệnh Vô Chính Diệu) tuy tài ba phi-thường như thế mà cũng đành phải chịu làm cố vấn, quân sư cho kẻ khác, chứ đâu có xưng vương đồ bá gì nổi …

2)- Ít bị tai nạn

Tôi xin nói ngay là người Mệnh Vô Chính Diệu thì bớt được nhiều tai nạn chứ không phải là chẳng bao giờ bị tai nạn. Sở dĩ họ được điểm may như vậy là vì Mệnh Vô Chính Diệu khi gặp Đại Tiểu hạn Sát Phá Liêm Tham và hung tinh đắc địa thì lại phát mạnh, trong khi Mệnh có chính tinh lại không thích hợp và có khi còn bị nguy hại. Như vậy Mệnh VCD đã bớt đi một số yếu tố tai hại vì đã quen với hung tinh.

3)- Dễ thích ứng với hoàn cảnh

Mệnh Vô Chính Diệu chẳng khác gì Mệnh trung lập, gặp đại vận nào cũng thích ứng được không bị “chéo cẳng ngỗng” như Mệnh có chính tinh, do đó đỡ bị gặp bước đường cùng (Đây tôi không nói về thọ yểu mà chỉ bàn đến công danh, sự nghiệp, vì lẽ tất nhiên gặp hạn xấu qúa thì phải chết !). Thí dụ như hạn gặp Tuần, Triệt hoặc Thiên Không đối với Mệnh có chính tinh (nhất là sao Tử-Phủ) thì rất tai hại, bất lợi nhưng đối với Mệnh Vô Chính Diệu lại hay vì không khác gì nhà đang trống trải bị gió thốc vào nay lại được lắp cửa ngõ đàng hoàng (tức là gặp Tuần Triệt, Thiên Không) thì căn nhà yên ổn biết bao. Tôi đã được xem nhiều Lá số vô chính diệu, có người bị thăng trầm luôn luôn nhưng gặp hoàn cảnh nào học cũng thích ứng được rồi dần dần ổn định
Vì theo nguyên tắc chỉ có hung tinh mới gây ra tai ương nhiều hơn các sao khác, vì các bại tinh chỉ gây thất bại hoặc bệnh hoạn chứ ít khi đem đến tai nạn như hung tinh. Như vậy kể ra cũng công bằng vì người Mệnh Vô Chính Diệu thường hay khổ về tinh thần thì ít ra cũng phải bớt được tai ương nhiều.

II/- NHỮNG ĐIỂM PHỨC TẠP VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU

Tôi có thâu thập được khá nhiều điểm phức tạp về cách giải đoán Mệnh Vô Chính Diệu, nhưng chỉ xin nêu ra những điểm chính và quan trọng để qúy bạn đỡ bị lúng túng khi quyết đoán:

1- Đắc Tam Không

Hầu như trong mọi sách về Tử-Vi đều có ghi “Mệnh Vô Chính Diệu đắc Tam Không nhi phú quý khả kỳ” và chắc hẳn những người nghiên cứu Tử-Vi đều đã hiểu rõ nghĩa. Tuy có rất nhiều lá số có cách trên mà chẳng thấy “Phú quý khả kỳ” gì hết, nghĩa là vẫn cứ nghèo hoặc trung lưu là cùng, mặc dù các lá số đều đúng giờ sinh hết, trong khi đó tôi có một người bà con (hiện giờ đáng gọi là thương gia) có cách này. Như thế tức là câu phú trên cũng vẫn có trường hợp rất ứng, nhưng nhiều trường hợp trật. Khi đã bí, lẽ tất nhiên tôi phải đi tham khảo những vị cao thâm về Tử-vi. Và về điểm này, hầu như vị nào cũng giảng giống nhau là phải căn cứ vào câu phú ”Tam Không độc thủ phú qúy song toàn”, có nghĩa là khi Mệnh của mình Vô Chính Diệu được Tam Không hội họp mà là con một (độc thủ có nghĩa là chỉ có một mình, chứ không phải là là “Ba Không” độc chiếm cung Mệnh), trong gia đình thì mới giàu sang, nhưng vị nào cũng công nhận rằng hai chữ “khả kỳ” vẫn đúng trong trường hợp này vì sự giàu sang lên xuống bất thường lắm. Cho tới ngày nay, tôi ngẫm thấy rất đúng vì người bà con giàu sang nói trên của tôi cũng đã có lúc gần như sạt nghiệp, tiền chợ không có chứ chứ chưa nói đến gì cao xa, nhưng có hai lần rất “khả kỳ” vì đùng một cái lên tỷ phú như máy bay phản lực vậy. Không biết sau này có thể vững được lâu dài hay không. Đó là chuyện tương lai. Còn những lá số kia qủa thật tôi thấy người nào cũng đông anh em, nên lấy đâu ra “độc thủ”. Vì lẽ đó, mấy vị Tử-Vi tôi tham khảo có nói thêm là nếu thấy lá số ai có cách như vậy, mà đông anh em thì nhắm vào các yếu tố khác mà đoán hay dở, chứ Tam Không đối với số đó kể như “pha” … Do đó, khi “Tam Không” đã không thành vấn đề thì “Nhất Không” hay “Nhị Không” cũng không quan tâm nữa. Tuy nhiên, khi Mệnh Vô Chính Diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ ngay tại cung thì vẫn hay hơn Mệnh Vô Chính Diệu đơn thuần nhiều. Vậy ta cũng không nên áp dụng qúa máy móc.

Thường thường các nhà tử-vi đều chê rằng Mệnh Vô Chính Diệu chỉ tốt khi đắc Tam không (tức là có Tuần, Triệt, Địa Không hoặc Thiên Không. Tôi không bàn chữ “Không” ứng cho những sao nào kể trên vì có vị lại bảo rằng Thiên Không mới không phải là “Không” nhưng chưa có ai chứng minh được hợp lý), và cụ Song An Đỗ Văn Lưu (tác giải cuốn Tử-Vi Chỉ Nam) có nêu ra thêm là Mạng Hỏa và Kim mới hợp với cách này nhất. Điểm này theo tôi chỉ đúng khi đương số là con một. (mà tôi đã bàn ở trên rồi )

Ngoài ra, quý bạn còn phải phân biệt như sau :

– Nếu Mạng có nhiều trung tinh rực rỡ quận tụ mà có một Không án ngữ và hai Không chiếu về thì đừng nên ham cách“Đắc Tam Không”nữa vì các trung tinh bị mất hiệu lực cả. Trong trường hợp này chỉ nên có Tam Không ở 3 phương chiếu về là hơn. Nếu không thì chẳng cần đủ 3 Không mới khỏi tai hại cho Mệnh.

– Khi nào Mệnh không chính tinh mà chỉ có toàn bại tinh hoặc bàng tinh không quan trọng mới cần có một“Không”án ngữ, nhưng lại có điểm thiệt thòi là các cách hay ở bên ngoài khó bổ túc cho Mệnh vì bị “Không” ngăn trở, thành ra chưa hẳn là hoàn toàn có lợi. Về trường hợp này nhiều vị cho rằng nên có Thiên Không hoặc Địa Không hơn là Tuần, Triệt vì hai sao Thiên, Địa Không không năn trở sự xâm nhập hoặc ảnh hưởng của các sao bên ngoài.

2- Không đắc Tam Không

Trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu không đắc Tam Không, tức là chỉ có Nhất, Nhị Không (ít khi không đắc Không nào) chưa hẳn là kém Tam Không và cũng không ngại “phi yểu tắc bần”, vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.Chỉ có điểm duy nhất là cung Phúc Đức không được xấu vì Mệnh đã yếu sẵn rồi thì phải nhờ vào cung “gốc” là cung Phúc Đức để tránh vấn đề kém thọ trước đã rồi mới tính đến công danh, sự nghiệp qua các cung hợp chiếu và đại hạn.Tôi đã được xem nhiều lá số Mệnh Vô Chính Diệu chỉ có đắc Nhất Không mà vẫn phú quý và chẳng hề chết non, nhưng những lá số này không có cái nào có cung Phúc Đức xấu.

3- Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu hư không chi địa

Cách này chắc nhiều bạn đã biết gọi là cách : “Nhật Nguyệt tịnh minh chiêu hư không chi địa”. Các nhà Tử-vi cho rằng rất hay, nhưng chúng ta cũng cần phân biệt một vài trường hợp như sau để khỏi sai lạc nhiều :
– Khi Mạng vô chính diệu có nhiều sao xấu (chiếu như :Không, Kiếp, Hỏa, Linh, Phục Binh ….) thực ra không nên có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu vì như thế không khác gì “vạch áo cho người xem lưng” bao nhiêu sự xấu xa trong nhà mình đem phô ra hết, tuy vẫn thành công, phú qúy nhưng mọi người đều thấy rõ bộ mặt thực của mình. Như vậy tưởng cũng chẳng lấy gì là hay. Trong trường hợp này thà đừng có Nhật Nguyệt hoặc nếu có thì hãm địa (tức là không sáng sủa) còn hay hơn để đỡ bị chê cười, nhục nhã.

– Nếu mạng vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ mà có Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu thì không còn được hưởng cách này nữa, hoặc nếu có được hưởng cũng chỉ là cái vỏ phú quý, đó là “giả cách” mà thôi.
Ngoại trừ một vài trường hợp cá biệt có thêm các cách quý khác thì hay vô cùng. Như lá số Đức Trần Hưng Đạo, tuổi Mậu Tý sinh ngày 30 tháng 12 giờ Ngọ.

Mạng Hỏa, Vô chính diệu, có Tuần, được Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu nên thông minh, danh vị xứng đáng, Hồng Việt, Tả Hữu Khoa Quyền (văn võ song toàn, đức độ, chính minh quân tử (Song Long, Quan Phúc chiếu mệnh) không có hung tinh ở cung Mạng, chỉ nhờ Nhật Nguyệt chiếu. Tuần thu hút Nhật Nguyệt tịnh minh, lại thêm nhiều trung tinh tốt.

– Nếu được đúng cách Nhật Nguyệt (tức là Mệnh không có Tuần, Triệt và cũng không có các sao xấu) thì nên có thêm Thiên Không hoặc Thiên Hư (nhưLá số minh họa :Khổng Minh)để khoảng chân không được thăm thẳm cho có nhiều chiếu sâu cho mặt trời và mặt trăng chiếu, như thế công danh, phú qúy mới phi thường và óc thông minh mới siêu việt, nhưng vẫn phải đóng vai trò “phó” mới lâu bền được

4- Đại Tiểu hạn

Đối với Mệnh Vô chính diệu, việc giải đoán Đại Tiểu hạn khác hẳn đối với Mệnh có chính tính thủ Mệnh. Vì Mệnh vô chính diệu có khả năng hấp thụ đủ mọi cách, từ cách Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng lương cho đến cách Sát Phá Liêm Tham cùng với hung tinh đắc địa, chẳng bao giờ không ”ăn khớp” với các cách này. Tuy nhiên, chỉ ngại đi đến Đại Tiểu hạn cũng Vô chính diệu lại không có Không nào thì chẳng khác nào một cái nhà trống, không cửa ngõ lại ở trên một khu vực “đồng không mông quạnh” làm sao chống lại được mưa gió hoặc bị ảnh hưởng của bên ngoài, như thế tức là làm ăn thất bại dễ dàng, sự nghiệp suy sụp mạnh mẽ.

Qua những điểm tôi trình bày trên đây, chắc hẳn qúy bạn đều nhận thấy rằng dù sao người có Mệnh Vô chính diệu vẫn chịu nhiều thiệt thòi, bất lợi, nhất là đối với ai ham công danh, quyền chức lớn, mặc dù họ có nhiều tài năng đôi khi xuất chúng, nhưng tài để phục vụ cho kẻ khác (nhiều khi kém mình) thì tưởng cũng là điều không hấp dẫn.Chỉ đối với ai có đầu óc triết lý, ưa sống về tinh thần, ưa nghiên cứu về lý số, biết an phận thời may ra mới hợp cách Mệnh Vô chính diệu, dù đắc Tam Không hay Không./.

(Trích trong Báo KHHB của Cụ Phong Nguyên)
(Phước Duyên)

10 Trạng thái kỳ thú của Tử-Vi


Trong khuôn khổ tổng quát vừa nói, kẻ viết xin trình bày thêm "10 trạng thái kỳ thú của Tử-vi" như sau :

1 - Vó câu nghị lực
2 - Đối kháng của định mệnh
3 - Liên minh kỳ diệu
4 - Hạnh phúc lâm nguy
5 - Đường đời cô đơn
6 - Bạn là ai
7 - Nên sống hay chết
8 - Sung sướng hay đau khổ
9 - Nhân diện ác quỷ
10-Anh hùng chiến trận.

1 - Vó câu nghị lực

Biết xem Tử-vi ai cũng phải công nhận giá trị quan hệ của các sao Thiên Mã, nó tượng trưng cho nghị lực ở đường đời, cũng như chiếc xe đi của đương số. Thiên Mã chỉ đóng ở 4 cung thuộc Tứ sinh : Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Khi Mã đóng ở cung nào, thì Mã thuộc hành của cung đó.

Thí dụ : Thiên Mã đóng ở cung Thân, tức là Mã Kim, Thiên Mã đóng ở cung Dần là Mã Mộc .... Tuy vậy, có điều lý thú nhất, là khi Mã đóng ở cung nào có sao Tuần thì phải nên hiểu rằng : Mã không còn ở cung đó nữa, mà Thiên Mã đã nhờ chiếc cầu Tuần nhảy tới (theo chiếu thuận) vị trí mới để trở thành Mã của hành ở cung mới nhảy tới. Thí dụ : Thiên Mã đóng ở cung Thân mà cung Thân có sao Tuần thì phải hiểu rằng Thiên Mã đã nhảy tới cung Hợi, để trở thành Mã Thủy (chứ không phải là Mã Kim nữa). Do đó, khi đối chiếu ngũ hành của Mã với ngũ hành của Mệnh, ta nên để ý tới sự kiện Mã ngộ Tuần (Sao Triệt không kể tới) mà luận giải về tính cách phấn đấu của đương số trong đời sống cũng như về những tai họa do xe cộ gây ra ...

2 - Đối kháng của Định Mệnh

Lá số Tử-Vi gồm 12 cung, mỗi cung mang một chủ đề trong 12 chủ đề của đương số là :Mệnh, Phụ, Phúc, Điền, Quan, Nô, Di, Ách, Tài, Tử, Phối, Bào. Ta hãy để ý có 6 đôi cung xung phá nhau, lần lượt là :

- Dần với Tị
- Sửu với Ngọ
- Tý với Mùi
- Hợi với Thân
- Mão với Thìn
- Dậu với Tuất.

Cho nên khi nhìn vào các cung trên, ta thấy ngay các vấn đề đã trở thành nên những đối tượng tranh chấp (một thắng một bại, một mất một còn, một chánh một tà, một thịnh một suy) nhau thật rõ ràng.

Thí dụ : Mệnh đóng tại cung Tý ta có :
Mệnh - Ách : xung phá.
Phụ - Di : xung phá
Phúc - Nô : xung phá
Điền - Quan : xung phá
Tử - Phối : Xung phá
Tài - Bào : xung phá

Rồi giữa những cặp cung tranh chấp ấy, ta để ý những sao của cung nào hợp và lợi cho ngũ hành của bản Mệnh, thì cung ấy cường và cung kia nhược. Thí dụ : Phúc - Nô xung phá, nếu Nô cung cường thỉ Phúc cung nhược, Tử phối xung phá, nếu Phối thịnh thỉ Tử suy .....

3 - Liên minh kỳ diệu

Nếu đã có 6 đôi cung phá nhau, thì cũng có 6 đôi cùng hạp nhau (nhưng chỉ là hạp một chiều) được gọi là 6 đôi nhị hợp :

- Tý với Sửu (Sửu lo cho Tý)
- Dần với Hợi (Hợi lo cho Dần)
- Mão với Tuất (Mão lo cho Tuất)
- Thìn với Dậu (Dậu lo cho Thìn)
- Tỵ với Thân (Tỵ lo cho Thân)
- Mùi với Ngọ (Mùi lo cho Ngọ)

Từ căn bản này, 12 chủ đề của bản số Tử-Vi đã thu lại làm 6 hành động làm lợi cho 6 chủ đề mà thôi. Thí dụ : Mệnh đóng tại Tý, thì bản số có giải đáp tổng quát ngay : cha mẹ lo cho đương số, bạn bè đem tài lộc tới cho đương số ....

Một lý thú căn bản suy gẫm : cung an Mệnh (tượng trưng cho đời sống tiêu cực của con người) luôn luôn được cung phụ mẫu che chở, nhưng cung an Thân (tượng trưng cho hành động của con người) lại luôn luôn sinh phò cho cung Phụ Mẫu (có ý nghĩa như sự báo hiếu vậy). Vấn đề này đã được cụ Thiên Lương cho là một bố cục tế vi của cổ nhân khi soạn ra cách an sao lập số Tử-vi vậy.

4 - Hạnh phúc lâm nguy

Bộ Sát Phá Tham là nhóm tinh đẩu quá khích, chủ về các hành động sát phạt, cho nên khi người ở cách Cơ Nguyệt Đồng Lương mà sang Đại hạn Sát Phá Tham thì hãy coi chừng sự xông xáo thái quá của nhóm sao vừa nói gây ra phản ứng phũ phàng không sao lường được (điều này thì ai cũng biết cả). Tuy nhiên ở đây, ta hãy để tâm kiểm nghiệm hai trường hợp :

- Bộ Sát Phá Tham ở cung Phụ Mẫu.
- Và Bộ Sát Phá Tham ở cung Phu Thê.

Luôn luôn là khuynh hướng báo trước sự hình khắc chia ly (nhẹ cũng là cảnh ông nói gà, bà nói vịt, cha ở nhà trước mẹ ở sân sau... ) Trong trường hợp bộ Sát Phá Tham (dù đặc địa hay hãm địa) ở trong vòng Thái Tuế thì còn đỡ (giảm 50 % hiệu lực ), chứ nếu chúng ở ngoài vòng Thái Tuế của bản số (Vòng Thái Tuế là vòng tam hợp cung tuổi của bản số) thì thật là tai hại vô cùng.

5 - Đường đời cô đơn

Xem số Tử-Vi, nhiều người có thói quen nhìn ngắm các chính diệu đắc địa hay hãm địa mà luận giải sự tốt xấu. Tôi thấy điều này có vẻ phiến diện, hời hợt, khi đúng khi không. Thật ra vấn đề ngũ hành của chính tinh mới là hệ trọng. Đối với hai cung Phối và Nô là hai nơi quần tụ của mỗi cá nhân trong xã hội, cần phải đẹp đẽ để đời sống thêm ý nghĩa (từ đời tư đến đời công). Cái đẹp ở hai cung Phối và Nô có nghĩa là có bạn đời và bạn đường chung thủy khả tín. Chúng ta hãy chú ý đến các ngũ hành của chính diệu đóng tại cung Phối và Nô như sau :

a)- Đối với cung Phối

Nếu ngũ hành của chính tinh cung Phối sinh nhập với ngũ hành của bản mệnh thì đời sống vợ chồng lâu dài đầm thắm, nếu cung Phối có chính tinh xung khắc với ngũ hành bản Mệnh thì : anh đường anh, tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi ... Đặc biệt, cung Phối có hai chính diệu (một hạp, một khắc) nghĩa là trong đời tình cảm thế nào cũng hai lần hát khúc tào khang là ít.

b)- Đối với cung Nô

Ngũ hành chính diệu sinh nhập ngũ hành bản Mệnh thì có bản bè, thuộc hạ tốt, trông cậy được. Bằng như ngũ hành chính diệu xung khắc ngũ hành bản Mệnh là kể như đường đời cô độc, không ai là Chung Tử Kỳ của Bá Nha cả. Khi ngũ hành của bản Mệnh sinh xuất ngũ hành của chính diệu tại Nô cung, phải coi như một đời tôi mọi cho bằng hữu.

Thí dụ :Người Mạng Thổ, Nô cung có Vũ Tướng, là kể như không có bạn tri kỷ !. (vì Vũ Khúc là Kim,Thiên Tướng là Thủy, ngũ hành bản Mệnh là Thổ không hợp và lợi gì với Kim và Thủy cả). Còn các bàng tinh và phụ tinh chỉ là chuyện thứ yếu, thêm bớt chút đỉnh ý nghĩa thôi .

6 - Bạn là ai ?

Cuốn Tử-Vi nghiệm lý của cụ Thiên Lương có nói : " Môn Tử-Vi khoa tính tình học tiềm ẩn ", tôi thấy điều này rất chí lý. Muốn tìm hiểu tính tình của một bản số, ta nên vẽ ra 3 vòng Tam hợp là :

- Vòng Thái Tuế : tượng trựng tư tưởng của mình.
- Vòng Thân : Tượng trưng hành động của mình.

Vòng Thái Tuế là Tam hợp của ba cung có tên giống địa chỉ năm sinh. Vòng Mệnh là Tam hợp của ba cung an Mệnh, cung Quan Lộc và cung Tài Bạch. Vòng Thân là tam hạp của ba cung liên quan với cung an Thân. Sau đó, ta ghi nhận ngũ hành của mỗi vòng :

- Hợi Mão Mùi là Mộc;
- Dần Ngọ Tuất là Hỏa;
- Thân Tí Thìn là Thủy;
- Tỵ Dậu Sửu là Kim.

Rồi lý luận theo tám trường hợp kể sau :

- Vòng Mệnh cùng hành với vòng Thái Tuế, còn Vòng Thân ở thế ngũ hành tương khắc, là người ngụy quân tử nói hay mà làm điều ác hiểm (giống như vai trò Nhạc Bất Quần trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Văn sĩ Kim Dung)

- Vòng Thân cùng hành với vòng Thái Tuế, còn Vòng Mệnh ở thế ngũ hành tương khắc, là người nói dữ dằn nhưng hành động lại quang minh chính trực (như mẫu người Từ Hải trong truyện Kiều)

- Vòng Mệnh, Vòng Thân cùng hành với vòng Thái Tuế : tốt nhất, quân tử chính danh.

- Vòng Mệnh cùng hành với Vòng Thân nhưng xung khắc ngũ hành với vòng Thái Tuế, là người chung thân bất mãn, lãnh tụ của đối lập, thích nghi và làm điều ngang trái.

- Vòng Thái Tuế sinh xuất vòng Mệnh nhưng Vòng an Thân lại sinh nhập Vòng Thái Tuế, là mẫu người cực kỳ khôn ngoan, chủ trương nhượng bộ trong lý thuyết rồi lấn lướt trong hành động.

- Vòng Mệnh cùng hành với Vòng Thân nhưng sinh nhập vòng Thái Tuế là người luôn chủ trương lấn lướt tha nhân, chuyên nghĩ và xếp đặt chuyện ăn người, mẫu người tham vọng.

- Vòng Mệnh cùng hành với vòng Thân nhưng được Vòng Thái Tuế sinh xuất là người hiền lành đến nhu nhược, luôn cam phận thiệt thòi (một sự nhịn, chín sự lành).

- Vòng Mệnh sinh nhập Vòng Thái Tuế, rồi Vòng Thái Tuế sinh xuất Vòng Thân là người nói hay làm dở, nói nhiều làm ít đa lý thuyết, thiếu thực hành, dốt hay nói chữ.

7 - Nên sống hay chết

Đời có vinh kẻ nhục, số Tử-Vi cũng có những nét bàng bạc đồng sao mà dị nghĩa, cả hai người nhe răng nhưng người này cười mà kẻ kia lại khóc. Đó là trường hợp bộ ba Mã-Khốc-Khách. Nhiều sách đều khẳng định hạn gặp Mã-Khốc-Khách là vận tốt, tôi đã kiểm nghiệm thấy không đúng mà phải luận giải thế tương quan giữa ngũ hành của Mã với hành của Mệnh trước tiên đã, nếu thấy Mã phò người là thì mới là nhạc ngựa khánh vàng reo vui, còn thấy Mã hại người thì chỉ là tiếng kèn trống đám ma thôi (hoặc đến hạn đó gặp nhiều cái rủi ro đưa tới như bệnh, tật, mất xe, hao tài tốn của, nhiều chuyện bực mình ...~_laughing )

Thí dụ : Người tuổi Ngọ, mạng Mộc Mã ở cung Thân (Mã Kim) vậy là Mã hại người. Ôi ! còn ghê rợn nào bằng hạn Mã-Khốc-Khách, khóc dở, mếu dở ... Người tuổi Dần, mạng Thủy, Mã đóng ở cung Thân (Mã Kim), đây là Mã phò người, nên gặp hạn Mã-Khốc-Khách là đến hồi thái lai vậy. Từ đó mà suy luận rộng thêm ra các trường hợp khác

8 - Sung sướng hay đau khổ

Khi nào chính diệu xung chiếu được coi như chính diệu tọa thủ ở cung vô chính diệu ?

- Khi nào Vòng tam hợp của cung vô chính diệu có hành khắc chế được hành của Vòng tam hợp cung xung chiếu có chứa chính diệu .

Thí dụ : Mệnh vô chính diệu tọa thủ ở cung Dậu (vòng tam hợp là Tỵ Dậu Sửu : Kim). Cung xung chiếu là Mão (vòng tam hợp Hợi Mão Mùi : Mộc) chứa hai chính diệu Thái Dương và Thiên Lương. Vậy vòng Kim khắc chế vòng Mộc, nên chiếm đoạt được hai chính tinh Thái Dương và Thiên Lương đem về cung Dậu xử dụng. Ngược lại nếu hành của cung vô chính diệu bị hành của cung xung chiếu áp đảo thì kể như "Hư không chi địa" hoàn toàn, lúc này cung vô chính diệu lại càng lâm nguy và dễ dàng để cho các "Hung tinh chiếu lược" hoành hành.

9 - Nhận diện ác quỉ

Cụ Hà-Lạc Dã Phu Việt-Viêm-Tử trong " Tử-Vi Áo Bí " đã đề cao vai trò của bộ Tả Phù và Hữu Bật. Thật tình mà nói, thì hai sao này là những " gián điệp hai mang " nghĩa là nó vừa hữu ích mà vừa nguy hiểm khi tìm biết tánh nết của một người qua bản số Tử-Vi. Khi Tả-Hữu đóng vào vòng Thái Tuế có hai trường hợp xảy ra :

- Nếu trong vòng Thái Tuế không có Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, Đà La, là người chính nhân quân tử.

- Nếu trong vòng Thái Tuế có thêm Không, Kiếp, Kỵ, Đà thì hẩm hiu cho người có tài mà không có thời (sinh bất phùng thời )

Riêng trường hợp hai sao Tả Hữu đứng ở thế đối lập với vòng Thái Tuế hay đứng ở thế sinh nhập vòng Thái Tuế [Ví dụ : tuổi Ngọ, vòng Thái Tuế là Hỏa và hai sao Tả-Hữu đóng cung Mùi (thuộc hành Mộc)] thì dù có thêm Không, Kiếp, Kỵ, Đà hay không vẫn là hạng hữu tài vô hạnh, làm điều quấy đảo thiên hạ.

10 - Anh Hùng chiến trận

Sao Phá Toái chỉ chịu đứng ở ba cung Tỵ-Dậu-Sửu. Nó tượng trưng cho sự ương ngạnh, thích làm điều phá tán, vỡ đổ (giống như nhân vật Na-Tra trong chuyện Phong Thần). Sao này coi như con đẻ của Phá Quân, nên khi Phá Toái đồng cung với Phá Quân thì kết hợp thành sức mạnh vô song (tương tự như Vũ Khúc gặp Văn Khúc) chủ về võ nghiệp thời danh. Nếu vòng Thái Tuế lại chứa " Toái Quân lưỡng Phá " này thì không cần phải nói nhiều : rõ ràng là bậc anh hùng trong thiên hạ, ấn chức nguyên nhung trao vào tay này không hổ thẹn chọn lầm người.

Tóm lại, để kết luận cho bài Tham luận này, ta có thể tạm bắt chước người Tây Phương để nói rằng :" Đưa Lá số Tử vi của bạn đây, tôi sẽ nói bạn là ai ! "

(Trích từ Báo KHHB của GS Lê Trung Hưng)

10 Điều tâm niệm khi đoán số Tử Vi

I-Tử Vi dưới nhãn quan Huyền Cơ đạo thuật

Khoa học TửVi theo truyền thuyết thì phát sinh từ đời nhà Tống (Trung Hoa) và do Trần Đoàn hiền triết phát huy thành hệ thống lý học, để rồi sau đó được các thế hệ nối tiếp vừa đóng góp nghiên cứu, vừa quảng bá nhân gian như một khuynh hướng tiên tri các hoạt động của mỗi con người. Xã hội Á Đông xưa trọng kẻ sĩ hơn hết thảy :

- Dân hữu tử, sĩ vi chi tiên

Mẫu người đại nhân phải hội đủ các yếu tố hơn đời và hơn người qua sự tinh thông nho, y, lý số. Trong khi đại đa số quần chúng lo sinh nhai bằng cách sinh hoạt trên căn bản nông nghiệp, thì giới sĩ phu miệt mài bằng các suy tư nhân linh của đạo học Đông Phương, lấy tĩnh trạng làm căn bản biện chứng cho các động trạng. Hai chiều hướng trái ngược :

- Đa số : Động trạng - Tĩnh trạng
- Thiểu số : Tĩnh trạng - Động trạng

Làm cho khoa lý học Tử Vi trở thành huyền học và tệ hơn nữa là thành đạo thuật mưu sinh của của những " bậc đại nhân nửa chừng xuân " vì tham vọng cho cá nhân. Nhãn quan chung của nhân gian, xưa đến nay một phần bị mê hoặc bởi các thuật sĩ, một phần chịu ảnh hưởng triết lý nhị nguyên của Tây Phương (qua cố gắng nhiệt thành của các quan Tây Phương cai trị thời pháp thuộc), nhìn môn Tử Vi như một kiến thức của óc mê tín, chỉ một vài năm gần đây, giới trí thức mới đang kiếm các phục hồi cho khoa Tử Vi bằng những nổ lực của luận lý, là đem kỹ thuật của Tây Phương giải thích sáng tỏ một phần góc cạnh " áo bí " của khoa học nhân văn này. Trong tinh thần mới ấy, khoa Tử Vi không thể chỉ nghiên cứu bằng những mẫu chuyện truyền khẩu, bằng những câu phú thực nghiệm trải qua thời gian đã bị tam sao thất bổn : mà phải vận dụng tinh thần tinh tế của lý học hiện đại đồng thời vẫn lấy căn bản " dịch lý " của Đông Phương làm nền tảng phán đoán. Nếu ai cũng biết cái tinh hoa của quan niệm " ý tại ngôn ngoại " " của " lời vô ngôn " đẻ ra cung cách của Thuật Zen (Thiền) thì cái tinh túy mềm dẻo và thích nghi của Yoga càng phải nên áp dụng vào khoa Tử Vi để linh động biện chứng những tương quan của các dữ kiện (tạm gọi là sao trên lá số Tử Vi) chi phối đời người.

II-Kỹ thuật tiêu chuẩn để nhận biết lá số Tử-Vi

Trong phạm vi bài tham luận này, bỏ ra ngoài những giai đoạn lập lá số Tử -Vi mà tạm coi như việc hoàn thành lá số có đầy đủ. Người có bản số hãy theo theo dõi các dữ kiện " sao " sau đây :

1- Dữ kiện nghị lực : Sao Thiên Mã.
2- Dữ kiện sinh tồn :các sao vòng Tràng Sinh.
3- Dữ kiện hưng thịnh : các sao vòng Lộc-Tồn.
4- Dữ kiện tính khí : các sao vòng Thái Tuế.
5- Dữ kiện thời vận : các sao Tuần và Triệt.
6- Dữ kiện bẩm chất : các sao Thiên Không, Đào Hoa, Hồng Loan.
7- Dữ kiện hoạt động : các sao Vòng Mệnh và vòng Thân.
8- Dữ kiện thú tính : các sao Địa Không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa-Tinh, Linh-Tinh.
9- Dữ kiện phù trợ : các sao Tả-Phù, Hữu-Bật, Lực Sĩ, Bác-Sĩ, Hóa Quyền, Hóa Khoa.
10- Dữ kiện ma thuật : Mệnh vô chính diệu.

Ngoài các dữ kiện sao vừa nói, ta hãy nói sơ lược lại nền tảng phối hợp ngũ hành, để thích nghi luận lý :

a)- Tương sinh : Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy-Mộc.
b)- Tương khắc: Mộc-Thổ-Thủy-Hỏa-Kim-Mộc.
c)- Bình Hòa : Thổ gặp Thổ (dù là loại Thổ gì cũng vậy)
d)- Bất cập : Hỏa gặp Hỏa (dù là loại Hỏa gì cũng vậy)
e)- Thái quá : Thủy gặp Thủy (dù là loại Thủy gì cũng vậy)
f)- Phát triển :Kim gặp Kim và Mộc gặp Mộc.

Có nhiều sách ghi thêm tính chất của nhiều loại Thổ, nhiều loại Hỏa để cố gắng phân tích sự tiết giảm xung đột hay tăng thêm hòa hợp; điều này có phần biện bác để an ủi cho những người gặp cảnh ngộ xấu hoặc là tâng bốc những người ưa nghe điều tốt mà thôi. Vì đã ở thế cùng hành tất phải ở tình trạng ngưng đọng hơn là ảnh hưởng với nhau (lý thuyết nhất nguyên tính trạng) Do đó, chủ ý của bài viết này là nhằm cái biến dịch của ngũ hành trên 12 cung số của bản số Tử Vi mà luận giải.

III- Sao Thiên Mã

Người Đông Phương ưa cảm thông sự vật hơn phát biểu sự vật nên việc dùng từ ngữ chỉ có ý nghĩa tượng trưng (chứ không có tính cách mô tả chủ quan như Tây Phương) cho nên dữ kiện được gọi là " sao Thiên Mã " chỉ nên hiểu là cái nghị lực của con người trong bản số Tử Vi. Tùy theo vị trí của 4 cung : Dần, Tỵ, Thân, Hợi mà sao Thiên Mã đóng, ta hiểu như sau :

a)- Thiên Mã ở cung Dần : đứng ở cung Mộc rất hợp với người mạng Mộc bạc nhược với người mạng Kim, vất vả với người mạng Thủy, làm hại người mạng Thổ, làm lợi người mạng Hỏa.

b)- Thiên Mã ở cung Tỵ : đứng ở cung Hỏa rất hợp với người mạng Hỏa, làm lợi người mạng Thổ, vất vả người mạng Mộc, làm hại người mạng Kim, bạc nhược với người mạng Thủy.

c)- Thiên Mã ở cung Thân : đứng ở cung Kim rất hợp với người mạng Kim, làm lợi người mạng Thủy, vất vả người mạng Thổ, làm hại người mạng Mộc, bạc nhược với người mạng Hỏa.

d)- Thiên Mã ở cung Hợi : đứng ở cung Thủy rất hợp với người mạng Thủy, làm lợi cho người mạng Mộc, vất vả với người mạng Kim, làm hại người mạng Thổ.

IV- Vòng Tràng Sinh

Vòng Tràng sinh có 12 sao đóng đủ trên 12 cung Tử Vi, ý nghĩa của vòng sao này ta nên coi là dữ kiện sinh tồn của đương số, do đó, khi cung an Mệnh, cung Phước đức (tiền kiếp) và cung Tật Ách (hậu kiếp) có những sao cùng hành với bản mệnh thì luận ra tính cách thọ, yểu, mạnh, khỏe, hay đau yếu :

a)- Đối với saoTràng Sinh (là Thủy) Cung Mệnh sinh sao, sao sinh bản Mệnh là đắc cách. Thí dụ : Người hành Mộc, mệnh an tại Dậu (Tuổi Âm Nam, Dương Nữ) thuộc Kim có các Sao Trường Sinh là Thủy (Kim-Thủy) sao Trường sinh sinh ra hành Mộc. Cung Mệnh sinh sao, sao khắc bản mệnh là sống không khỏe mạnh. Cung Mệnh khắc sao, sao sinh bản Mệnh bất đắc kỳ tử. Cung Mệnh khắc sao, sao khắc bản mệnh : chết non.

b)- Đối với sao Thai (Thổ) thì cần phải đóng ở cung Phúc Đức để chứng tỏ tiền kiếp đã kết tụ tinh anh, phát kết ra kiếp hiện tại, thì lý tự nhiên cuộc sống phải bền, để ý nghĩa của " Thai " hiện hữu như một căn bản không phản hồi được. Trường hợp này, cung Mệnh có sao Mộ, cung Quan có Trường Sinh, Cung Tài có Đế Vượng, (ngu si hưởng thái bình!?)

c)- Đối với sao Đế Vượng (là Kim) cần phải tụ hội ở cung Tật ách (hậu kiếp) để minh chứng ngày ra đi sang kiếp sau được tiếp đón như một thành tích vẻ vang tuyệt đỉnh (vì trong chu kỳ sinh thái của Vòng Tràng-Sinh, thì giai đoạn Đế Vượng coi như điểm cực đại của hàm số Parabole, biểu diễn vòng luân hồi của con người). Trường hợp này là người có sao Tuyệt ở cung Mệnh (khôn ngoan ở đời)

V- Vòng Lộc Tồn

Sống ở đời, người ta ai cũng cần có phương tiện thuận lợi tối đa để hưởng hạnh phúc (dù là hạnh phúc tạm), nên trong khoa Tử-Vi có vòng sao Lộc Tồn được coi là những dữ kiện của sự hưng thịnh. Vòng Lộc Tồn cũng có 12 sao an đủ 12 cung trên bản số. Tuy nhiên ta lưu ý 4 cung : Dần, Mão, Thân, Dậu nhiều nhất :

a)- Tuổi Giáp : Lộc tồn ở Dần.
b)- Tuổi Ất : Lộc tồn ở Mão
c)- Tuổi Canh : Lộc tồn ở Thân.
d)- Tuổi Tân : Lộc tồn ở Dậu.

Cho nên, những người sanh năm Dần-Ngọ-Tuất mà tuổi Giáp (Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất) thì hưởng cái lộc này lâu dài (đúng nghĩa Lộc tồn) những người tuổi Ất Mão, Ất Hợi và Ất Mùi; Canh Thân, Canh Tý và Canh Thìn; Tân Tỵ, Tân Dậu, và Tân Sửu cũng được hưởng may mắn nói trên. Kỳ dư các tuổi khác nếu, cung Mệnh, cung Quan hoặc cung Tài mà có Lộc tồn, thì Lộc tuy có nhưng không tồn được (hưởng trong giai đoạn ngắn mà thôi !? )

VI- Vòng Thái Tuế

Có lẽ đây vòng sao hệ trọng nhất đối với người nghiên cứu khoa tử vi lý học . Bởi vòng này diễn tả cái tính khí, phẩm hạnh của đương số cũng như nó cho biết cái chu kỳ thăng trầm của cuộc đời . Cho nên ta phân 12 sao của ngũ hành là :

- Dần Ngọ Tuất : Hành Hỏa
- Tỵ Dậu Sửu : Hành Kim
- Hợi Mão Mùi : Hành Mộc
- Thân Tý Thìn : Hành Thủy

Thành ra 4 nhóm mệnh danh như sau :
a-Nhóm chánh phái : Thái tuế, Quan Phù, Bạch Hổ.
b-Nhóm tả phái : Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn.
c-Nhóm thiên hữu : Long Đức, Thiếu Âm, Trực Phù.
d-Nhóm thiên tả : Thiếu dương, Tử Phù, Phúc Đức.

Cung An Mệnh thuộc nhóm nào, thì giúp ta nhìn thấy cái cá tính chung của đương số ngay, Ví dụ như :

- Những người tuổi Dần, Ngọ, Tuất, cung Mệnh, cung Quan Lộc và Tài Bạch cũng đóng ở 3 cung Dần, Ngọ, Tuất (có nhóm chánh phái đóng) thì là những người đảm lược, lương hảo, anh hùng.

- Những người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu có 3 cung Mệnh, Quan và Tài đóng ở 3 cung Tỵ, Dậu, Sửu (có nhóm chánh phái đóng) thì hiển hách hơn người, được kính nể;

- Ta tiếp tục lý luận như trên cho các người tuổi Thân, Tý, Thìn. Mệnh, Quan và Tài cũng đóng Thân, Tý, Thìn. Những người tuổi Hợi, Mão Mùi mà 3 cung Hợi, Mão, Mùi đều là chánh phái cả. Cộng thêm các dữ liệu sao có trong bản số của đương số thì kết luận thêm cho chính xác.

Giai đoạn tuổi ở 1 trong 3 cung của nhóm: Thái Tuế-Quan Phù-Bạch Hổ, đều là thời vận tốt nhất cho người có lá số tử vi. Khi cung Mệnh của của bản số tử-vi thuộc nhóm tả phái đó là người bất mãn, lang bạt và đau khổ. Cung Mệnh thuộc nhóm thiên hữu là người bẩm chất hiền lành nhưng nhu nhược, cung Mệnh thuộc nhóm thiên tả, là người khôn vặt, lanh lợi những chuyện tầm thường.

VII- Luật của sao TUẦN & TRIỆT

Kiếp nhân sinh ví như cái xe lăn trên đường đời, Sao Triệt được coi như cái Thắng đầu của xe, còn sao Tuần coi như bộ thắng sau của xe. Thắng đầu cần mới nguyên, rất hữu hiệu trong việc cản bánh xe lăn (đôi khi còn tạo ra nguy hiểm ! làm cho xe lật) nên dưới 30 tuổi ảnh hưởng của sao Triệt thật đậm đà. Sao Tuần ít bộc phát ảnh hưởng rõ rệt, nhưng lại bền vững suốt đời người (thắng của bánh xe sau tác dụng điều hòa tốc độ của xe chạy). Luật hóa giải TUẦN-TRIỆT được đặc biệt cho những ai có bản số Tử vi mà cung Mệnh bị một trong hai sao Triệt và Tuần trấn đóng, thì đi đến giai đoạn cung có sao còn lại đóng, là vận hên đã tới.

Thí dụ : Mệnh đóng tại Tỵ có sao Triệt, cung Phúc đức có sao Tuần , vậy đi đến giai đoạn cung Phúc đức thì phát huy được danh phận (dù không thuộc vòng Thái Tuế-Quan Phù-Bạch Hổ). Lý giải điều này cũng tự nhiên. Vi khi xe chạy mà người tài xế điều hành được hai bộ thắng thì tất nhiên phải an toàn bảo đảm như ý muốn.

VIII- Bộ ba Thiên Không, Đào Hoa và Hồng Loan

Người biết coi Tử vi, ai cũng biết :Thiên Không (Hành Hỏa), Đào Hoa (Hành Mộc) và Hồng Loan (thuộc hành Thủy). Bản chất của Hỏa Tinh là tàn phá, là gieo rắc tai ương (Thần chiến tranh) : cho nên khi ba cung Mệnh, Quan và Tài của bản số tử vi có :

a)- Thiên Không, Đào Hoa nghĩa là Mộc dưỡng hỏa, để Hỏa tàn phá thêm mạnh dạn, thêm khốc liệt, ý tượng trưng cho sự khôn ngoan quá quắt của đương số. Người có cách này là mẫu người muốn chiếm đọat, muốn lấn tới để ăn người.

b)- Thiên Không Hồng Loan : Nghĩa là lửa đã bị Thủy trấn áp, bó tay qui hàng, nên cung Mệnh có cách này là mẫu người thoát tục, thích cảnh tịnh hơn cảnh động.

c)- Thiên Không độc thủ (ở Thìn-Tuất-Sửu-Mùi có Hồng Đào chiếu) bụng dạ thất thường người Âm Nam, Âm Nữ là lửa ngầm, người Dương Nam, Dương Nữ là lửa bùng : tất cả đều thủ đoạn vặt hoặc không bộc lộ hoặc phát tiết ra ngòai.

IX- Vòng Mệnh và Vòng Thân

Căn cứ của Luật Tam hạp :
- Dần Ngọ Tuất là Hỏa.
- Thân Tý Thìn là Thủy.
- Hợi Mão Mùi là Mộc.
- Tỵ Dậu Sửu là Kim.

Thì khi cung an Mệnh đứng ở vị trí nào so với vòng Thái Tuế, ta phải nhìn thế tam hợp của cung an Mệnh như Vòng tha nhân đối với Vòng bẩm tính đương số là vòng Thái Tuế tam hợp của cung an Thân là Vòng hành động của đương số. Biện chứng qua Luật ngũ hành tiêu-trưởng, ta vạch trần được tác phong đường số một các dễ dàng.

Ví dụ : Người tuổi Tỵ (Vòng Thái Tuế là Tỵ-Dậu-Sửu : Kim), cung an Mệnh đóng ở Tuất (Vòng tha nhân là Dần-Ngọ-Tuất : Hỏa), cung an Thân ở Tý (Vòng hành động là Thân-Tý-Thìn : Thủy). Ta lý giải ngay : số người này là mẫu người ra đời bị người ta chèn ép (do Hỏa khắc Kim), chịu nhiều thua thiệt, vất vả (vì Kim sinh Thủy)


X- Nhóm hung tinh chiến lược

Ta gọi là hung tinh chiến lược, vì các sao Địa không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh, có những bộ mặt thú tính man dã nhưng hóa giải được khi điều hướng đúng chỗ.

a)- Hai sao Địa Kiếp, Địa Không khi đứng trong nhóm tam hợp của vòng Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ, thì dù đắc địa (Tỵ, Hợi) hay hãm địa, cũng vẫn mất hiệu lực phá hại của nó, để trở nên ý nghĩa của người có tài mà không có thời. Mặt khác, nếu đương số thuộc hành Thổ thì đã làm cho tính chất Hỏa của Không Kiếp bị tiết khí : nên vẫy vùng yếu kém hẳn.

b)- Hai sao Đà La đóng ở Dần Thân Tỵ Hợi và Kình Dương đóng ở tứ mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi ) lại có Vòng Thái Tuế ở đây thì không còn là sao tác họa mà trở thành bộ " hồi chánh tinh " đới công chuộc tội, phát võ hiển vinh, vượng phu ích tử.

c)- Hai sao Hỏa tinh, Linh Tinh cũng là bộ Hỏa-Linh. Nếu đứng trong vòng Thái Tuế thì tạo thành những cái thất bại anh dũng của đương số. Người có cách này, dù " khí thiêng đã về thần" cũng được người đời kính nể khâm phục. Nói cách khác: Đấy là cách của người " Sinh thọ tử bất ninh thọ nhục "

XI- Bộ sao phò trợ

Quan niệm " phù thịnh không phù suy " là ý nghĩa của các nhóm sao phù trợ : Tả Phù, Hữu Bật, Lực Sĩ, Bác Sĩ, Hóa Quyền ... Nếu các vòng sao này
lọt vào trong vòng Thái Tuế, thì đúng là những " lương đống công thần " giúp cho đương số thăng tiến thành đạt ở đường đời, bằng trái lại, chúng nhảy sang vòng Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn (nhóm tả phái), thì chẳng khác nào thả cọp về rừng, sức tán hại càng phát triển, làm cho đương số trăm chiều vất vả (Đặc biệt nếu cung Mệnh có cách này, mà vòng Thái Tuế không tam hợp với cung Mệnh, thì rõ ràng là loại Hoàng Sào thảo khấu, ác bá côn đồ). Nhớ đây chỉ là cái chung nhất cần phải kết hợp thêm các dữ liệu sao trong bản số Tử-vi để mà diễn giải thì mới có kết luận thêm chính xác tới mức độ nào.

XII- Mệnh vô chính diệu : cách số của ma thuật

Nói chung những người có cung Mệnh vô chính diệu, thường là mẫu người sắc sảo, quyền biến có nhiều cảm ứng bén nhạy hơn người có chính diệu thủ cung Mệnh. Xem số Tử-vi những người Mệnh vô chính diệu rất khó, vỉ độ chuyển biến của các dữ kiện "sao" rất "Sensible" nghĩa là có cách số ma thuật huyền hoặc nhất. Càng nhiều hung tinh, bại tinh đắc địa tọa thủ Mệnh, càng có lợi cho đương số. Tuy nhiên vẫn cần vòng Thái Tuế tam hợp với cung an Mệnh hoặc cung an Thân để có thể hướng cái chánh nghĩa về cho nhóm ác tinh này, bằng không thì đương số sẽ trở thành những hồ ly tinh tu luyện thành người, bản tính dã thú ... khó phân biệt (!?) sẽ tạo ra những nghiệp ác để rồi đền tội một cách mau chóng (chết yểu).

XIII- TỔNG LUẬN

Nếu nắm vững mười dữ kiện căn bản nêu trên, lẽ tất nhiên khoa Tử-Vi không còn là bí truyền ân sủng cho một riêng ai; tất cả chỉ còn là toàn những tương quan ngũ hành sinh khắc hoặc chế hóa, chỉ còn là những lý giải minh bạch cho các dữ kiện được gọi là "sao" của bản số Tử-vi mà nhãn quan của con người nghiên cứu luôn luôn phải khách quan một cách thành khẩn.

Khoa lý học này sẽ có một ngày cởi bỏ cái " áo bí " của nó, để trở thành một khoa nhân văn chứa đựng tính thiện ác và thái độ vô cầu của người thâm cứu./.

(Trích từ Báo KHHB của GS Lê Trung Hưng)

Chuyện Tử-vi về Sao Đào Hoa

Mỗi khi coi Tử-vi cho ai mà thấy sao Đào Hoa cư Mạng là tôi nhớ tới một mẫu chuyện vừa sai lầm, vừa vui và lại vừa ấm ức. Khi tôi mới biết võ vẽ về Tử-vi, một lần có một cô khá kiều diễm nhờ tôi coi lá số của cô ta ra sao. Cô ta đưa cho tôi lá số do chính cô ta lập lấy (vì hồi đó đâu có máy tính lập trình an sao như bây giờ), nhưng không biết giải đoán, vì mới chỉ học cách lập thành. Tôi hãy còn nhớ số mạng của cô cư Dần có Vũ Tướng đồng cung hội Long Phượng, Xương Khúc, Riêu, Y, Thái Tuế, Mộc Dục lại có thêm Đào Hoa tọa thủ tại cung Mạng. Sau khi đoán trúng là cô ta hợp về ngành Y khoa hoặc Dược khoa và được " người đẹp " khen đúng ( cô ta đã đậu bằng Dược) thì lại bị cô ta chê hết mức khi tôi đoán là cô ta lãng mạng, đa tình. Cô ta quả quyết là từ khi trở thành một thiếu nữ đến lúc nhờ tôi coi số, không bao giờ cô nghĩ đến chuyện yêu đương, chứ chưa nói tới có mối tình nào và cô chỉ chuyên chú học hành cho đến khi thành Dược sĩ. Tôi lấy làm lạ và nghĩ là cô ta giấu diếm, vì thấy hình dáng kiều diễm và hơi cao của cô rất ứng vào các sao Vũ-Tướng ngộ Đào Hoa, nhất là Vũ-Tướng hợp với Mạng (của cô vậy) thì tại sao lại không ứng về tính nết. Tôi cũng hiểu rằng Vũ-Tướng là hai sao đứng đắn thì Đào-Hoa cũng chẳng có gì ảnh hưởng mạnh, nhưng tôi nghĩ rằng Đào Riêu Mộc chiếu Mệnh lại thêm Xương Khúc thì dù sao cũng phải lãng mạng một chút chứ. Do đó tuy nghi ngờ về sự phủ nhận của cô ta nhưng tôi cũng vẫn cố tìm ra lý do về phương diện Tử-vi. Trong khi tôi đang suy nghĩ thì cô ta hỏi tôi :

- Đào Hoa cư Dần là hoa nở ban mai có sương đọng nên tốt lắm phải không ? Vì có ông thầy nói với tôi như vậy.

Lúc bấy giờ tôi mới giật nẩy mình chợt nhớ là Đào-Hoa có bao giờ cư Dần đâu (vì sao này chỉ có ở 4 vị trí là Tý, Ngọ, Mão, Dậu) và tự trách mình sao sơ xuất và kém cỏi như vậy. Tôi cũng tức luôn cả ông thày nào đó đã đoán hấp tấp, chẳng chịu kiểm soát lại các sao. Số sui có sự an sao lộn là vì cô ta mới học lập thành nên đã lầm cung Dần với cung Mão và cô ta còn đổ thừa là tại hai cung đó gần nhau quá.

Bây giờ tôi xin trở lại một chút lá số trên khi đã biết Đào Hoa an tại Mão thay vì tại Dần. Kể ra hồi đó tôi cũng còn non nớt thật, vì đâu có cần phải Đào Hoa tại Mệnh mới kiều diễm vì Vũ Tướng hội Khôi Việt (tôi quên không nêu 2 sao này ở đoạn trên) cũng đủ "hoa nhường nguyệt thẹn" rồi. Theo kinh nghiệm của riêng tôi nhất là khi Vũ Tướng là các chính tinh hợp mệnh. Và khi không có sao Đào-Hoa tại Mệnh nữa thì đương nhiên các sao Mộc, Riêu, Xương Khúc mất phe đảng "lẳng lơ" mà chỉ còn ứng vào việc học Dược khoa.

Tôi cũng cần mở ngoặc nói thêm là không phải cứ có bộ sao như trên là học Dược khoa hay Y khoa mà chỉ có thể nói là có khuynh hướng về ngành đó mà thôi, vì Tử-vi đâu có thể có những công thức chính xác quá như vậy.

Do đó, cô ta đứng đắn và học chăm là đúng, vì Vũ Khúc chủ cô đơn, Thiên Tướng chủ tư cách, thông minh, quân tử lại thêm các sao Xương Khúc, Long Phượng, còn sao Đào Hoa chạy sang cung Phụ-mẫu. Ngoài ra, tôi cũng cần nói thêm là khi sao này chuyển sang cung Phụ-Mẫu (có Thái Dương tọa thủ chủ về cha) thì thật là ứng, vì cô ta có cho biết là ông thân sinh có hai vợ (!?)

Vì bị lầm lẫn chua cay như trên, nên từ đó mỗi lần coi Tử vi tôi luôn luôn ghi nhớ tới những vị trí giới hạn của một số sao (vì cũng có nhiều sao thay đổi vị trí suốt cả 12 cung), chứ không riêng gì sao Đào Hoa, và thường thường tôi thích tự lập lá số hơn là căn cứ vào lá số đã có sẵn của người khác nhờ coi, vì chỉ sợ không phải do người thành thạo lập ra.

Vậy các bạn mới tập coi Tử-vi nên thận trọng về điểm này, tuy rất sơ đẳng nhưng nếu lầm lẫn một chút thì đoán trật nhiều. Và cũng vì "hận" sao này cho nên mỗi khi có dịp thảo luận hoặc học hỏi về Tử-vi tôi thường hay mổ sẻ sao " đa tình " này. Do đó tôi cũng chưa chấm dứt bài này về sao Đào-Hoa mà còn nêu thêm một ít kinh nghiệm do một "cây tử vi" đã trao cho kẻ viết bài này về sao nói trên. Còn vấn đề đúng hay sai để các bạn xét đoán.

Vị này có nêu câu hỏi sau, với tôi trước khi "tán" về sao Đào Hoa :

- Trong 4 vị trí (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) của sao Đào Hoa, anh thấy sao này ở cung nào tốt nhất ?

- Tôi trả lời liền là "ở Mão hay nhất" (không phải ở Dần đâu nghe !). Vì thường ai cũng biết là "hoa nở ban mai tươi đẹp". Thế mà vị đó lại mỉm cười một cách hóm hỉnh và nói rằng theo kinh nghiệm của ông, thì Đào-Hoa ở Ngọ hay hơn cả. Tôi cứ ngẩn người ra và chẳng hiểu tại sao mà vị đó lại ngược đời như vậy.

Dưới đây là ý nghĩa sao Đào-Hoa ở 4 vị trí, do vị đó nêu ra để tiện việc so sánh (tôi xin nói thêm là đây chỉ nói riêng về sao Đào-Hoa nên sự ứng nghiệm chỉ tương đối, vì còn phải chế hóa với các sao khác hoặc yếu tố khác):

1- Đào Hoa cư Dậu

Có thể nói Đào Hoa nếu cư cung Đoài (Dậu) thì xấu nhất, vì Đào Hoa thuộc Mộc, cư cung Kim tức là cung khắc sao. Hơn nữa giờ Dậu là lúc bắt đầu tối, ai còn thấy vẻ đẹp của Hoa (vì Đào Hoa tượng trưng cho hoa, tình ái, đàn bà con gái ... ) và cũng vào giờ này là giờ tạm gọi là lúc gái đi ăn sương bắt đầu hoạt động. Điểm xấu nữa là cung Kim không có gì gọi là nước để nuôi dưỡng hoa, nên hoa phải mau héo. Do những điểm này, nếu ai, bất luận nam hay nữ có cách này thường phải chịu những mối tình đau thương, dù yêu nhau tha thiết vì hay bị tan vỡ, hoặc có những mối tình bất chính, loạn luân... Nếu chẳng may gặp người mạng Hỏa (tức là Đào Hoa sinh mạng) thực là xấu xa hơn nữa, khổ hơn nữa vì cuộc đời luôn luôn xảy ra như vậy. Để tóm tắt điểm xấu xa của cách này, vị đó một câu thật chí lý là người mà " đất chẳng dung " ( vị đó ví cung là đất đứng của sao) thì làm sao mà sài nổi .

2- Đào Hoa cư Tý

Ở vào cung Tý (thủy) thì Hoa được nuôi dưỡng nên tươi mát, lâu héo. Ngoài ra, giờ Tý là lúc nửa đêm, chẳng phải là giờ hợp lý cho các cuộc ăn chơi mà chỉ là giờ đang ngủ. Vì thế ai có trường hợp này thường có nhiều mối tình đẹp, lâu dài, nhưng hơi khó (nghĩa là cũng có thể thực hiện được, sau khi bị trắc trở một hai lần) đi tới hôn nhân, vì đêm khuya sao làm lễ thành hôn được, chỉ " lả lướt " với nhau là thuận lợi. Như vậy, tuy hay mà còn gì đau khổ cho bằng yêu nhau tha thiết mà không lấy được nhau, càng nhiều mối tình càng tan nát con tim thêm. Tuy nhiên ai có cách này thường chung tình. Đó cũng là một điểm tốt về khía cạnh thực tế.

3- Đào Hoa cư Mão

Nếu ở cung Mão (cũng là cung Chấn tượng trưng cho Sấm) thuộc Mộc, tức là sao và cung tương hòa, và giờ Mão là giờ sáng sớm hoa có sương ban mai đọng nên cũng tươi mát nhưng khi mặt trời mọc là khô dần và héo đi. Ngoài ra hoa nở lúc có sấm thì cứ bị rung hoài, dễ bi tan tác. Do đó ai có trường hợp này thường được những mối tình tuy đẹp nhưng ngắn ngủi (không dài bằng nơi cư Tý được) và lại hay bị người ngoài cuộc đố kị ganh ghét, phá đám. Như vậy kể ra cũng không hay lắm.

4- Đào Hoa cư Ngọ

Cung Ngọ thuộc Hỏa, nhất là vào giữa trưa, mà Mộc (Đào Hoa) lại sinh cung nên Hỏa càng vượng càng làm hoa màu héo. Vì vậy bất luận Nam hay Nữ ở vào trường hợp này thường hay được người khác phái mê say, chạy theo mình, chiều chuộng mình, nhưng mình lại không thích kéo dài cuộc tình lâu dài mà chỉ ưa vui chơi trong khoảnh khắc (ban trưa còn gì là thơ mộng nữa, vì quá oi bức !..)

Như vậy trên thực tế những người có thái độ đó dễ bị liệt vào loại sở khanh, bạc tình, nhưng đối với đương sự thì lại thơi thới hãnh diện vì có nhiều người yêu, không đau khổ về tình, vì có quan trọng hóa tình ái đâu. Vậy cái "hay" của Đào-Hoa cư Ngọ có tính cách chủ quan, ích kỷ. Tuy nhiên, tôi nghiệm thấy những người có cách này tuy có thể nói là bạc tình khi độc thân, nhưng sau khi kết hôn vẫn là người lo toan cho gia đình, miễn là đừng có sao Tham Lang đồng cung (nếu có Riêu lại càng hay, đừng sợ cách " Đào Riêu ", theo phú vì chính cụ Hoàng Hạc có khen Riêu ở cung Ngọ như sen mọc trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn).

Đến đây, tôi xin chấm dứt mục " Đào Hoa " và để các bạn phán đoán theo ý riêng của mình, vì về tình ái mỗi người có một quan niệm riêng (nhưng ĐÀO HOA cư Dậu nhất định là xấu rồi, các bạn dù có ngông cũng không nên ham cách này). Và tôi cũng xin nhắc lại một lần nữa là các điều giải đoán trên chỉ đúng tương đối, vì còn nhiều yếu tố khác chế hóa. Ngoài ra, vì những điều này chỉ là ý kiến riêng của cá nhân chứ không do sách xưa (hoặc có thể vị này đã đọc được ở sách nào chăng) nên tôi mong ước được quý bạn bốn phương nghiên cứu về Tử-vi cho biết những nhận xét của mình, nếu có để cho mục này thêm linh động, hoành tráng thêm.

(Trích từ Báo KHHB của PHONG-NGUYÊN )

Thử tìm hiểu về cung NÔ-BỘC


Bài viết của bác Phước Duyên trích theo Cụ Phong Nguyên (Báo KHHB)

Thường thường, khi đóan Tử-Vi của một người ít ai chú trọng nhiều đến cung Nô Bộc, mà chỉ mổ xẻ tỉ mỉ các cung Mệnh, Thân, Tài, Quan, Di, Phúc … thậm chí các sách vở Tử-Vi cũng chỉ bàn sơ lược về cung Nô Bộc, vì cung này không được coi là cường cung. Nhưng theo kinh nghiệm của một số người giỏi Tử-Vi mà tôi đã có dịp tham khảo ý kiến, thì khi luận đóan về công danh, sự nghiệp, uy quyền của một người rất cần chú trọng tới cung Nô, ngòai các cường cung thường lệ, mới tránh được những sai lầm nặng nề.

Ngòai ra, nhiều người lại cho rằng cung Nô Bộc bao gồm luôn cả bạn bè, nhưng theo thiển ý thì cung Thiên Di và cung Quan Lộc mới chỉ giới này, còn cung Nô chỉ liên quan đến người dưới quyền, đầy tớ, gia nhân, vợ nhỏ ….. mà thôi. Và nếu có khi xét cung Nô mà đóan đúng được một khía cạnh nào đó về bạn bè, thì chắc hẳn những người này trước kia cũng chỉ thuộc vào nhóm dưới quyền rồi về sau nhờ may mắn hay cố gắng trở thành ngang hàng với đương số. Sở dĩ tôi phải nêu ra điểm này là để tránh một vài ngộ nhận hiểu lầm về những điều mà tôi trình bày dưới đây về cung Nô Bộc.

Với ý niệm như trên, tôi xin thử đưa ra những tiêu chuẩn bổ túc để giải đóan cung Nô Bộc mà tôi hy vọng có thể giúp qúy bạn đóan được công danh, sự nghiệp được chính xác hơn. Và để cho đỡ khô khan và dễ hiểu, tôi xin nêu ra nhiều ví dụ tiêu biểu.

1 - Trường hợp cung Nô tốt hơn cung Mệnh

Trước hết, tôi cần nói là để cho giản dị, tôi chỉ nêu ra chữ Mệnh chứ thực ra phải phốii hợp với các cung Tài, Quan, Di cũng như xem cung Nô phải phối hợp với các cung Huynh-Đệ, Tử-Tức và Phụ-Mẫu chiếu về. Ngòai ra, đã nói đến Mệnh thì “Thân” cũng phải chú trọng tới.

Một lần có một anh bạn thân, cũng biết sơ về Tử-Vi, đưa cho tôi coi giúp lá số của anh ta và phàn nàn rằng lá số của anh có lẽ trật. Vì cung Nô Bộc của anh rất tốt mà cho tới ngày nay gần 40 tuổi rồi vẫn chẳng được điều khiển một ai cả. Hiện tại anh đang làm nhân viên văn phòng cho một công ty nước ngòai. Trong phòng anh công tác, anh coi như là cấp thấp nhất, ngọai trừ mấy người tùy phái. Nhìn cung Nô Bộc của anh có Tử-Vi (cư cung Ngọ), tức là có cách Tử Phủ Vũ Tướng do các sao hợp chiếu tạo thành, lại hội nhiều trung tinh quyền qúy khác mà tôi xin miễn kể ra cho khỏi rườm ra, hèn chi anh chẳng cho là tốt, nếu chỉ xét tới sao trên.

Nhưng anh ấy không để ý đến Mệnh qúa kém, có Cự-Đồng hãm địa tại Sửu hội nhiều hung tinh (Kình, Đà, Không, Kiếp) cũng hãm địa, còn cung an Thân và Tài, Quan, Di cũng không có tốt gì, như vậy làm nhân viên văn phòng được là may rồi. Các nhà Tử-vi gọi trường hợp này là “hữu quân vô tướng” (có quân mà không có tướng), tức là cung Nô tốt hơn cung Mệnh. Cung Nô như vậy là phản cách, vô lý, cho nên chẳng dùng được vào khía cạnh nào. Phải chi Mệnh có cách gì hay hơn, cùng nữa là bằng (kể ra khó được như vậy vì Tử Phủ Vũ Tướng với Tử-Vi cư Ngọ là cách trội nhất rồi ) thì công danh tột đỉnh, mình vừa giỏi vừa có những người dưới quyền tài ba lỗi lạc, thật còn gì bằng. Nếu Mệnh kém một chút (huống chi lại kém hẳn như trường hợp anh bạn tôi) cũng đã bất hạnh rồi, vì mình chỉ là bù nhìn, kẻ dưới quyền đặt mình ở cương vị nào hay dẹp bỏ chức vụ của mình đi cũng chịu. Đó là chưa kể những tai họa đau đớn có thể xảy ra cho mình do người dưới quyền gây ra, nếu Mệnh của mình có những sao tác hại.

Do đó, trong mọi trường hợp, ta đừng bao giờ ham cung Nô qúa tốt nếu mình muốn làm lớn. Theo kinh nghiệm riêng của tôi, thì tối kị cung Nô có cách Tử Phủ Vũ Tướng (dù hãm địa), nhất là khi có thêm trung tinh quần tụ, vì ít khi Mệnh của mình có cách trội hơn.

2 - Trường hợp cung Nô xấu, nhưng cung Mệnh tốt

Trong trường hợp này các nhà Tử-Vi thường gọi là “hữu tướng vô quân” (có tướng mà không quân) và cũng cho rằng như thế là công danh bất hiển, giống như cách “hữu quân vô tướng”. Nhưng tôi nghiệm thấy rằng trong trường hợp này không thể quyết đóan một cách máy móc như thế được. Tôi đã bị lầm lẫn khá nhiều lần khi luận đóan theo quy tắc đó, và xin nêu ra hai ví dụ để quý bạn hiểu rõ hơn.

– Có một Bà Dược Sĩ đến nhờ tôi coi Tử-Vi xem sự nghiệp ra sao. Tôi thấy Mệnh của bà rất tốt, nào có Khôi, Việt, Quan, Phúc, Long, Phượng, Riêu Y, Thái Tuế, Xương Khúc, Hóa Khoa, nào là Ngũ Hành tương sinh, nhưng cung Nô có Thiên Đồng hãm địa hội Không, Kiếp, Kị, Phục … (tôi không nêu tỉ mỉ các sao, vì mục đích của bài này là đưa ra tiêu chuẩn) cho nên tôi vội kết luận là bà ta cũng chẳng có sự nghiệp gì lớn. Nhưng trên thực tế bà ta rất giàu có, hai ba tiệm thuốc tây ở Sài Gòn và còn có ở một hai cái ở tỉnh nữa. Đó là bà ta khoe như vậy để gián tiếp cho là tôi đóan ẩu. Tuy nhiên bà ta cũng công nhận là những người bán hàng thuốc tây cho bà đều gian tham, trộm cắp hòai nên bà hay thay đổi người bán hàng, nay đổi người này, mai đổi người kia, nhưng sự nghiệp của bà cũng không vì thế mà suy kém.

– Một lần khác, có người bạn làm chung sở, nhờ tôi coi giùm lá số của ông anh ruột hiện làm Bác Sĩ Quân Y. Vì là chỗ thân tình nên anh ta nói luôn ngay nghề nghiệp của người anh để đỡ mất công giải đóan của tôi, đồng thời cũng là để xác định ngay với tôi là lá số đúng giờ. Anh ta chỉ cần hỏi là sự nghiệp của người anh sẽ ra sao, có bền vững hay không, vì người này không có cao vọng. Nhìn cung Mệnh có Thiên Lương hội Quan Phúc, Riêu Y, Kình, Hỷ, Khoa Quyền Lộc … tôi cũng công nhận là đúng giờ sinh. Còn cung Nô thì tòan là sao xấu, nào là Hỏa Linh, Không Kiếp, Phục, Tử, Tuyệt, Kiếp Sát … tôi liền đóan là công danh bất hiển. Nhưng về sau mới biết là sai lầm qúa nhiều, vì làm Bác Sĩ đâu có cần nhiều người dưới giỏi. Cung Nô lúc đó ứng vào bệnh nhân. Thực tế, vị Bác Sĩ này tòan chữa cho thương bệnh binh, người què, người cụt, người bị cháy thịt, phỏng da, nhưng vị Bác Sĩ này rất mát tay ! (nhờ có Hỷ Thần tại Mệnh); ít khi không chữa nổi bệnh nhân.

Qua hai ví dụ nêu trên, ta thấy rằng đối với những người hành nghề chuyên môn thường thường không cần phải cung Nô tốt (lẽ dĩ nhiên tốt vẫn hơn những người dưới quyền đâu cần nhiều và đâu cần tài ba lỗi lạc, nếu họ có kém cỏi hay lưu manh chăng nữa thì mình cũng chỉ bực mình và phải thận trọng thôi, chứ sự nghiệp đâu có bị ảnh hưởng trực tiếp). Tuy nhiên những người hành nghề chuyên môn muốn có địa vị cao trong chính quyền, nếu có cung Nô xấu như trên thì chỉ nên đeo đuổi nghề của mình mới mong vững bền và giàu có. Và do đó trường hợp “hữu tướng vô quân” sẽ rất ứng nghiệm đối với những người đeo đuổi chức phận cao trong chính quyền, nhất là về phương diện quân sự và chính trị. Tôi đã từng được coi nhiều là số của một số sĩ quan “ngồi chơi xơi nước” chỉ có hai ba người lính dưới quyền và chẳng có ai nể vì, lại hay lên lon cũng chỉ vì bị cách “hữu tướng vô quân”.

3 - Tương quan giữa các sao của Cung Nô và các sao Cung Mệnh

Trong hai phần (1) và (2) nêu trên đây, tôi chỉ nêu ra vấn đề xấu tốt của cung Nô và cung Mệnh, còn trong phần này tôi xin bàn đến sự “ăn khớp” giữa các sao của cung Nô và các sao của cung Mệnh, một điểm không kém phần quan trọng.

Thí dụ : Một người Mệnh có Khôi Việt, Xương Khúc, Quan Phúc, Hóa Khoa, Tấu Thư chẳng hạn, tức là có năng khiếu về văn chương, có tâm hồn thi sĩ … nếu cung Nô có : Không Kiếp, Hỏa Linh, Kình Đà, Sát Phá Tham thì làm sao mà thầy trò có thể hòa hợp, ăn ý với nhau, vì lọai người dưới quyền này chỉ thích đâm chém, du đãng, trộm cắp … Ngược lại cũng vậy, một người Mệnh có các sao này chỉ thích buôn lậu lớn (thí dụ như Nhật-Nguyệt hãm địa hội Không Kiếp, Tả Hữu chẳng hạn) mà cung Nô có tòan sao hiền lành như Quan Phúc, Thai Tọa, Bộ Tứ Đức, Hóa Khoa … thì làm sao có thể thực hiện được khuynh hướng của mình, và nếu xoay sang chiều hướng khác thì nhất định là kém, thất bại dễ dàng. Do đó nếu có sự “tréo cẳng ngỗng” giữa Nô & Mệnh như vậy thì đương nhiên công danh, sự nghiệp (lương thiện cũng như bất hợp pháp) khó đạt được. Còn về trường hợp có sự kết hợp mật thiết giữa Nô & Mệnh tôi thấy khỏi cần nêu ra thí dụ, vì qúy bạn thừa sức suy luận, trường hợp đó đương nhiên là thuận lợi cho sự nghiệp.

Tuy nhiên, những trường hợp “ngược” như trên không có nhiều. Theo kinh nghiệm, tôi thấy các cung trong một lá số thường có một cách bố cục rất ăn khớp với nhau, vì nếu các sao không có môi trường để họat động theo cương vị của mình thì làm sao mà đóan được đường hướng, sự nghiệp của một đời người.

4 - Tương quan giữa Ngũ hành của các sao thuộc Cung Nô và của Cung Nô với Ngũ Hành của bản Mệnh

Nói chung, khi xét đến cung Nô, nếu chỉ lưu tâm đến những sao tốt, sao xấu thì vẫn chưa được chính xác, vì cũng một sao nếu sinh được bản Mệnh của mình thì khác hẳn với trường hợp khắc bản Mệnh mình hay được bản Mệnh mình sinh. Có một lần tình cờ tôi được hai lá số khác nhau về năm, tháng, ngày, giờ nhưng các cung lại có các sao được bố cục gần như giống nhau. Đây tôi chỉ nói về cung Nô. Tôi hãy còn nhớ một người Mạng Hỏa và một người mạng Mộc. Hai người khả năng gần như ngang nhau, nhưng người mạng Mộc chức vụ cao hơn nhiều và có uy quyền. Thật tôi không ngờ chỉ vì một yếu tố Ngũ Hành mà công danh chênh lệch như thế. Cung Nô của hai người cùng có Thiên Đồng & Thái Âm (thuộc Thủy), do đó chỉ có người mạng Mộc được hưởng hai sao đó. Ngòai ra thường thường Thái-Âm hay Thái-Dương chiếu Nô thì người dưới không trung thành, đói thì tìm đến, no thì bỏ đi . Sách có nói là cách “ cơ lai bão khứ” và :

Con em xa khứ xa hòan
Bởi vì Nhật Nguyệt đóng miền Nô cung

Nhưng đối với người mạng Hỏa thì đúng, còn đối với người mạng Mộc thì người đó cho tôi biết là đàn em của ông ta chỉ thay đổi nhiều vì bị thuyên chuyển, chứ không hề vì chán ghét đàn anh và bất cứ người nào tới cũng đều phục vụ ông ta hết mình.

Còn vấn đề mạng mình khắc hay sinh hay hòa với các sao của cung Nô thì ra sao?


A - Bản Mạng khắc sao (chỉ nên nói chính tinh) cung Nô

Nhiều vị giỏi Tử-Vi thường nói với tôi rằng đa số những người coi Tử-Vi đều ngại mạng khắc sao, nhưng thực ra riêng đối với trường hợp cung Nô thì như thế lại cũng hay, vì mình dễ sai khiến được người dưới quyền, dễ làm chủ tình hình, ít khi bị làm bù nhìn, nhất là khi mạng mình lại tốt hơn. Tôi còn nghiệm thấy ngay cả trường hợp mạng ngang với Nô mà vẫn còn uy quyền thực sự đối với người dưới quyền, khi mạng mình khắc các sao cung Nô.

Tuy nhiên, nếu được các sao cung Nô sinh mạng mình vẫn tốt hơn nhiều, vì bao giờ người dưới quyền tự ý phục vụ mình cũng hay hơn là sợ hãi mình mà thi hành chỉ thị của mình.

B- Bản Mạng sinh sao cung Nô (sinh xuất)

Gặp trường hợp này gần như chắc chắn là bất lợi cho mình, trừ phi mạng mình có các sao trội hơn nhiều, vì không còn gì nhu nhược cho bằng người trên cứ phải làm theo ý muốn của người dưới quyền, phải chìu lụy họ. Tệ bại nhất là nếu cung Nô có thêm Hóa Quyền chẳng hạn thì thực mình chỉ là tôi tớ cho người dưới quyền, nếu có Song Lộc tức là mình bợ đỡ họ chỉ vì tiền. Còn gặp trường hợp mạng mình trội hơn nhiều và có thêm các sao cứng rắn, uy quyền (như Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Tham Vũ hội Khoa Quyền Lộc … ) thì hết bất lợi, vì như thế tức là mình giúp đỡ được cho đàn em hữu hiệu khiến cho họ trở lên người khá giả thêm tài năng (nhất là trong trường hợp cung Nô có các sao như Long Phượng, Quang Qúy, Xương Khúc, Thanh Long ….) nhưng dù sao mình cũng phải mất mát về tiền bạc, thời giờ, tinh thần khá nhiều .

C - Bản Mạng hòa với các sao cung Nô

Trường hợp này hòan tòan bị chi phối bởi các sao cung Nô và các sao cung Mệnh. Nếu Nô tốt hơn mình khó chỉ huy và Nếu Mệnh tốt hơn là mình có quyền uy. Còn hai cung tương đương thì hai bên đều làm việc theo bổn phận và trách nhiệm.

Riêng về Ngũ hành của cung Nô đối với bản Mệnh, tôi chỉ xin nêu ra một điều khác biệt là cung Nô chỉ chung tất cả những người dưới quyền, còn các sao tiêu biểu cho từng nhóm, từng người (Thí dụ như Đồng Âm là một nhóm, Long Phượng Hổ Cái là một nhóm, Cơ Lương là một nhóm … ) Như vậy là trong trường hợp cung Nô khắc Mạng mình thì xấu hơn là các chính tinh Nô khắc Mạng mình, vì tất cả tập thể người dưới quyền không ưa mình (nhất là thêm Hóa Kỵ, Nhật Nguyệt, Không-Kiếp) thì làm sao mình làm việc nổi, còn như chính tinh khắc thì mình vẫn có thể gặp được nhóm người khác đắc lực, trung thành hơn. Còn các trường hợp (Mạng sinh cung Nô, khắc cung Nô, được cung Nô sinh …. ) Các bạn cứ việc suy theo các điểm sinh khắc theo sao kể trên là hiểu ngay.

5 - Các chính tinh tại cung Nô nên đắc địa hay hãm địa ?

Cụ Song An Đỗ Văn Lưu, tác giả cuốn Tử-Vi Chỉ Nam, khi còn sinh tiền có cho biết rằng các chính tinh (không cần xét tới trung hay bàng tinh cho bớt phức tạp) tại cung Nô cần hãm địa hơn là đắc địa, vì người dưới giỏi hơn cấp trên không hay. Chính trong cuốn Tử-Vi của Cụ cũng có nêu ra như vậy. Nhưng theo kinh nghiệm của một số nhà Tử-Vi thì không hẳn phải như vậy mới hay, vì không bao giờ chỉ xét riêng cung Nô mà không so sánh với cung Mệnh. Thực thế, tôi nghiệm thấy rằng khi Mệnh có thượng cách (thí dụ như Tử Phủ Vũ Tướng đắc địa hội các trung tinh Long Phượng, Quang Qúy, Khôi Việt, Thai Tọa, Tả Hữu ….) thì rất cần có cung Nô hội các sao đắc địa, ngòai các yếu tố khác. Có được như vậy thì người dưới quyền mới nhiều khả năng, đắc lực, phục vụ hữu hiệu cho cung Mệnh, nếu không thượng cách của cung Mệnh sẽ không có môi trường họat động. Hơn nữa, nếu được các chính tinh cung Nô sinh bản Mệnh thì cần đắc địa, để cho các tài năng của người dưới hòan tòan được sử dụng cho cấp trên.

Như vậy không có nghĩa là phủ nhận hòan tòan ý kiến của Cụ Song An Đỗ Văn Lưu. Lẽ dĩ nhiên khi Mệnh không được trội mấy thì cung Nô cần có các chinh tinh hãm địa hay bị Tuần Triệt án ngữ để bớt sự lấn áp cấp trên.

Thí dụ Mệnh có Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc địa mà cung Nô có cách Sát Phá Tham Vũ thì rất cần các sao này hãm địa để có sự tương xứng (vì cách Sát Phá Tham Vũ coi như mạnh hơn cách Cơ Nguyệt Đồng Lương ). Nhưng theo kinh nghiệm riêng, tôi thấy có điều bất lợi là người dưới quyền thường thiếu khả năng hay làm hỏng việc, nhất là trong trường hợp liên quan đến kỹ thuật, chuyên môn. Tôi có một người bạn làm quản lý cho một công ty cũng có trường hợp này, nên tối ngày anh ta than là mệt, vì người dưới không làm tròn bổn phận và ít khi anh tuyển dụng được nhân viên đúng với công việc đòi hỏi. Anh ta có nói là : Thà anh phải chiều lụy người dưới để cho công việc được điều hòa, còn hơn họ kém cấp trên qúa nhiều. Ý anh muốn nói về phương diện Tử-vi là : “ Thà các sao ở cung Nô đắc địa và trội hơn Mệnh của anh còn hơn” .

6 - Vị trí cung Nô

Tôi cố ý đặt mục này ở phần chót vì trường hợp này rất hiếm có và rất tốt. Thật vậy, tôi mới chỉ gặp rất ít Lá số có trường hợp này. Đó là cung Nô nằm đúng vào cung tuổi của mình. Ví dụ như tuổi Dậu mà có cung Nô ở cung Dậu. Có thể nói là bất cứ ai có cung Nô ở vị trí như vậy đều có công danh và có nhiều người dưới quyền đắc lực, vẫn biết còn tùy theo nhiều yếu tố khác nữa kèm theo. Nhưng tôi quan niệm rằng khi đã có cung Nô nằm đúng ngay cung tuổi của mình thì gần như chắc chắn các yếu tố khác được bố cục thuận lợi cho mình, ít nhất là về phương diện công danh, uy quyền. Ngòai ra, riêng về tuổi Dậu này, cung Nô lại chiếu về (Nhị-Hợp) cung Mệnh (ở Thìn) cho nên còn làm tăng thêm sự phục vụ đắc lực, và còn có tình thương mến, kính trọng cấp trên.

Quý bạn cũng cần lưu ý một điểm là không phải cứ cung Nô ở ngay cung tuổi mình là đều chiếu mệnh nhị hợp (phải như trường hợp ví dụ trên mới ứng hợp)

Để các bạn tiện tìm hiểu thêm về trường hợp hiếm có này tôi xin nêu ra năm, tháng, ngày giờ của lá số trên: đương số sinh ngày 7 tháng 5, năm Ất Dậu, giờ Dần, Âm Nam, Mệnh Thủy, Kim Tứ Cục.


Và để chứng tỏ có sự bổ túc cho điểm tốt này , tôi xin nói thêm rằng mặc dù cung Nô của đương số có Không Kiếp hãm địa hội Tuế, Phục, Kỵ, Hỏa Tinh thế mà vẫn hay đáo để, bởi vì Không Kiếp, Thái Tuế, Hỏa Tinh đều thuộc Hỏa bị mạng Thủy khắc chế nên người dưới quyền dù là thành phần lưu manh, côn đồ, nhưng vẫn phải chịu ép dưới quyền, còn sao Hóa Kị thuộc Thủy thì tương sinh với Mạng nên cũng chẳng làm gì cho cấp trên khổ tâm. Ngòai ra, cung Dậu thuộc Kim lại sinh bản Mệnh Thủy và chính tinh tại cung Nô là Thiên Đồng là Thủy cũng hợp với bản Mệnh, lại còn các trung tinh hội chiếu (Quang Quý, Long Phượng, Thanh Long …) như vậy cung Nô qúa tốt rồi, huống chi Mệnh Thân lại rất đắc cách, nhất là được Thất Sát cư Quan mà Thân đóng ở đó hội Thai Tọa, Quan Phúc, Khôi Việt lại trội hơn cung Nô nhiều, có quyền sinh sát trong tay, và cũng vì có Quan Phúc làm giảm bớt cách “dư” đi nên đương số không đi về võ nghiệp mà lại chuyển sang ngành “Thẩm Phán” ; đương số làm dự thẩm. Thật đúng là có quyền sinh sát gián tiếp. Tôi cần nói thêm là các hung tinh nêu trên còn ứng vào các bị can, bị cáo là những thành phần bất hảo cho nên cung Nô càng không có gọi là xấu, vì các sao liên hệ đã có môi trường họat động. Hơn nữa dù cho thành phần trực tiếp dưới quyền có là hạng “dao búa” đi nữa, họ cũng chỉ lưu manh với các người khác nhưng đối với đương số lại rất đắc lực.

Để chấm dứt bài này, tôi chỉ còn biết nhắc nhở qúy bạn là bao giờ cũng phải so sánh kỹ lưỡng cung Mệnh và cung Nô cùng vấn đề Ngũ Hành giữa cung Nô và bản Mệnh trước khi xét đến ý nghĩa các cách và các sao, có như thế mới khỏi bị sai lạc nhiều về công danh sự nghiệp của một người coi số .