Saturday, November 21, 2020

Giải phóng, thay thế ký ức, trải nghiệm cũ để mở rộng, nâng cao ý thức đến một trạng thái mới

Những ký ức, thế giới quan cũ tồn tại trong tiềm thức, tàng thức của mỗi sinh mệnh trên cõi vật lý và được kết nối đến hồ sơ Akashic (Tàng thư Akasha) hay bộ nhớ vũ trụ của mỗi một sinh mệnh. Hồ sơ này được lưu trữ ở một chiều kích thực tại khác. Đối với mỗi sinh mệnh, những ký ức chính là kiến thức, trải nghiệm của mỗi sinh mệnh từ khi bắt đầu sự sống của mình. Cũng có thể nói, đó chính là các trạng thái đã từng có và sẽ có trong tương lai của một điểm năng lượng sống, sinh lực. Do đó, để có thể giải phóng các ký ức cũ, sinh mệnh đó buộc phải tạo ra các trải nghiệm mới cung cấp cho tiềm thức, tàng thức của mình trong kiếp sống hiện tại hoặc tương lai.

Mỗi sinh mệnh khi tham gia vào quá trình tiến hóa của mình, sẽ trải qua quá trình phân biện, lựa chọn đáp ứng với các mối liên kết dưới dạng các tương tác hay lực. Mỗi khi xảy ra sự đáp ứng hay cũng có nghĩa là một sự đáp ứng rung động đã xảy ra ứng với một tần số rung động nào đó. Khi điều này xảy ra, sẽ gây ra một rung động lên vật chất tinh hoa Akasha. Theo thời gian, mỗi một sinh mệnh qua trải qua hằng hà sa số kiếp sống của mình sẽ lưu dấu vết lịch sử trải nghiệm của mình lên hồ sơ Akashic. 

Mỗi lịch sử trải nghiệm kiếp này hoặc vài kiếp gần đây sẽ được dùng như điểm năng lượng sống, sinh lực tiên thiên tác động vào việc hình thành nên hình hài của sinh mệnh trong kiếp tiếp theo. Bên cạnh đó, còn trở thành các ký ức trong tiềm thức có thể được truy cập bởi ý thức chi phối hành vi, khuôn mẫu sống của sinh mệnh trong kiếp này. 

Bên cạnh đó, các trải nghiệm có tần số rung động cao sẽ được lưu giữ lại trong tâm thức, giúp gia tăng chiều kích thực tại của tâm thức. Nếu kiếp sống đó trải qua càng nhiều các trải nghiệm có tần số cao thì kiếp sống đó mang lại nhiều lợi lộc cho sự tiến hóa của sinh mệnh đó. 

Khi tần số rung động của các trải nghiệp tăng lên hay tần số rung động của tâm thức, tâm thức tỉnh thức, hình thể tăng lên hay chính là ý thức đã được nâng cao, mở rộng thì khi đối mặt với những trải nghiệp, ký ức cũ có tần số rung động thấp, sinh mệnh đó sẽ đủ sáng suốt để đưa ra lựa chọn tốt nhất. Sự lựa chọn đó có thể giúp sinh mệnh chuyển hóa năng lượng trải nghiệm, ký ức có tần số thấp thành năng lượng có tần số cao hơn. Điều này sẽ giúp giải phóng, thay thế trải nghiệm, ký ức cũ bằng trải nghiệp, ký ức vừa mới có được từ sự chuyển hóa với tần số rung động cao hơn. 

Sau này, ý thức sinh mệnh đó sẽ truy cập đến các trải nghiệm, ký ức mới này trong tiềm thức thay cho những cái cũ và do đó cũng sẽ tác động lên hành vi, khuôn mẫu sống của sinh mệnh đó theo chiều hướng tốt hơn, tiến hóa hơn. Nếu những khoảng thời gian sau đó, có các trải nghiệm, ký ức giống với trải nghiệm, ký ức cũ đến từ Phi Ngã thì sinh mệnh đó sẽ dễ dàng vượt qua được bởi vì đơn giản là không còn cộng hưởng, tương tác với những rung động có tần số thấp đó.

Như vậy, mỗi sinh mệnh trong kiếp sống của mình, có những thời điểm phải đối mặt với những gì mình đã gây tạo trong quá khứ thông qua sự chi phối của ký ức, trải nghiệm trong tiềm thức. Những thời điểm đó, sinh mệnh đó hoặc lựa chọn chuyển hóa những ký ức, trải nghiệm đó lên các rung động có tần số cao hơn hoặc không vượt qua được và bị kéo xuống với các tần số rung động thấp hơn. Nếu là lựa chọn đầu tiên, thì sinh mệnh đó sẽ giải phóng, thay thế được ký ức, trải nghiệm cũ bằng những cái mới. Sinh mệnh đó nhờ vậy cũng tiến lên thêm một bước nữa trên nấc thang tiến hóa của mình.

Sunday, November 1, 2020

Cấu trúc chính phủ tâm linh của hành tinh Trái Đất

Mỗi hành tinh có chính phủ tâm linh để hướng dẫn và vận hành cho cơ tiến hóa của tất cả các sinh mệnh trên hành tinh đó. Mỗi chính phủ này đều có sinh mệnh đứng đầu, có các phòng ban, các sinh mệnh đứng đầu các phòng ban, các sinh mệnh làm việc trong các phòng ban và các sinh mệnh hỗ trợ khác. Mỗi sinh mệnh trong chính phủ tâm linh và mỗi phòng ban đảm nhiệm các nhiệm vụ khác nhau. Các nhiệm vụ này liên quan chủ yếu đến các tia năng lượng sống hay là các luồng thần lực được truyền đến từ các sinh mệnh làm việc ở các chính phủ tâm linh ở các hành tinh khác hoặc thái dương hệ hay thiên hà.

Cấu trúc cấp bật tinh thần của hành tinh bắt đầu từ ba Kumara hay ba vị Phật Hoạt Động, là các ánh xạ hay các sinh mệnh mở rộng của ba sinh mệnh hay Tam Ngôi Nhất Thể của Thái Dương Thượng Đế. Đứng đầu chính phủ tâm linh của hành tinh là Hành Tinh Thượng Đế là Sanat Kumara. Đức Hành Tinh Thượng Đế này được trợ giúp bởi ba vị Kumara (sinh mệnh mở rộng của Thái Dương Thượng Đế). Sự trợ giúp này chủ yếu thông qua việc tiếp nhận các tia năng lượng hay các luồng thần lực đến từ các sinh mệnh trong chính phủ tâm linh của Thái Dương Thượng Đế cũng như các tia năng lượng đến từ các vị Kumara khác và biến đổi đến một mức độ phù hợp nào đó đối với hành tinh sau đó chuyển giao các luồng thần lực đã được biến đổi này đến Hành Tinh Thượng Đế để tiếp tục tổng hợp và biến đổi lần nữa. Mỗi vị Kumara làm việc với một loại năng lượng chính khác nhau. Đức Sanat Kumara là nơi tổng hợp các loại năng lượng này và cũng là hiện thân của loại năng lượng thứ bảy. Hào quang của ngài chứa đựng màu sắc đại diện cho bảy loại năng lượng khác nhau này. 

Chính phủ tâm linh hay Thiên Đình của Hành Tinh Thượng Đế Sanat Kumara gồm ba vị Kumara (ba vị Phật); ba vị đứng đầu các vị trí Manu, Christ và Mahachohan; ba cung chính và bốn phòng hỗ trợ. Bốn phòng thuộc về cung thứ ba. Mỗi cung, phòng đều có sinh mệnh đứng đầu gọi là các Cung chủ. Các cung tương ứng theo thứ tự từ cung một đến cung bảy. Bên cạnh đó, chính phủ tâm linh được sự trợ giúp của các Nghiệp Quả Tinh Quân, các Đấng Quang Minh, các bật Chân Sư, đệ tử của các Chân Sư, ... thuộc các Ashram là các đơn vị đào tạo tâm linh, tất cả cư trú tại Shamballa.

Ba vị nắm giữ vị trí Manu, Christ, Mahachohan chính là ba sinh mệnh mở rộng ứng với Tam Ngôi Nhất Thể của Thượng Đế Sanat Kumara: The Manu (đại diện trạng thái tâm thức Ý Chí), The Christ (đại diện trạng thái tâm thức Tình Yêu - Minh Triết), The Mahachohan (đại diện trạng thái tâm thức Hoạt Động). Các sinh mệnh mở rộng này sẽ tiếp nhận các tia năng lượng sống hay các luồng sinh hoạt Ý Chí, Minh Triết, Hoạt Động đến từ Hành Tinh Thượng Đế và tiếp tục làm việc với các tia này để điều chỉnh, phân bổ các tia này đến với các sinh mệnh đứng đầu các cung hay cung chủ. 

Các sinh mệnh nắm giữ các vị trí Manu, Christ, Mahachohan cũng như các cung chủ của các cung sẽ thay đổi theo cấp độ tiến hóa của các sinh mệnh này. Hiện tại nắm giữ vị trí Manu là đức Allah Gobi, vị trí Christ là đức Maitreya, vị trí Mahachohan chưa biết tên; cung chủ cung một là đức Morya, cung chủ cung hai là đức Koot Humi, cung chủ cung ba là đức Venetian, cung chủ cung bốn là đức Serapis, cung chủ cung năm là đức Hilarion, cung chủ cung sáu là đức Jesus, cung chủ cung bảy là đức Saint Germain. Mỗi cung chủ đều có các trợ lý để giúp đỡ mình xử lý công việc.

Bên dưới các cung chủ cũng như trợ lý của các ngài là các bậc chân sư trợ giúp đào tạo các đệ tử, giảng dạy, thành lập các tổ chức tâm linh, tôn giáo mới, ...

Cấp bậc tiếp theo chính là các điểm đạo đồ, các đệ tử chính thức, các đệ tử tập sự và cuối cùng là tất cả các sinh mệnh còn lại thuộc các vương quốc loài khác nhau.

Wednesday, October 28, 2020

Hành Tinh Thượng Đế

Đức Hành Tinh Thượng Đế là một sinh mệnh vũ trụ. Sự tiến hóa của Ngài đã vượt ra khỏi cấp độ cõi giới Vũ Trụ Vật Lý hay đã vượt qua chín cấp điểm đạo trên cõi giới Vũ Trụ Vật Lý, đi vào cõi Vũ Trụ Trung Giới nên Chân Thần Hành Tinh Thượng Đế, Tâm Thức / Thể tại các cõi giới ứng với các chiều kích thực tại của Hành Tinh Thượng Đế, Tâm Thức Thức Tỉnh / Ý Thức của Hành Tinh Thượng Đế, chiều kích thực tại tương ứng của Tâm Thức Thức Tỉnh của Hành Tinh Thượng Đế đều thuộc về các cõi giới vũ trụ.

Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ chia Ý Thức của mình thành 900.000 phân mảnh và mỗi phân mãnh này phải hóa thân vật lý vào mỗi hành tinh khác nhau trong thiên hà để học các bài học khác nhau trước khi chính thức tham gia khóa học đào tạo Hành Tinh Thượng Đế chính thức. Sau khi các phân mãnh này hoàn thành nhiệm vụ và trở về nhập vào vòng tròn các ý thức của mình thì quá trình đào tạo mới chính thức bắt đầu.

Khi chính thức tham gia vào khóa đào tạo thành Hành Tinh Thượng Đế, ngài sẽ được hướng dẫn bởi một vị thầy là một sinh mệnh vũ trụ có cấp độ tiến hóa cao hơn rất nhiều. Bên cạnh vị thầy, ngài sẽ cùng tham gia đào tạo với các sinh mệnh khác có chung con đường trở thành Hành Tinh Thượng Đế. Bên cạnh đó, ngài cũng có các giao tiếp với các sinh mệnh vũ trụ ở các cõi trên cao hơn thông qua thầy của mình.

Để trở thành một Hành Tinh Thượng Đế, ngài cần phải trải qua sự đào tạo thấu hiểu về Sự Hợp Nhất, tình yêu vô thượng - vô điều kiện, sự mở rộng ý thức, sự loại bỏ tất cả các kháng trở hay bản ngã còn sót lại, sự tích hợp, hợp nhất ý thức với ý thức của hành tinh và tất cả các sinh mệnh trên hành tinh. Và một trong những bài học, nhiệm vụ quan trọng nhất chính là tạo dựng và học cách vận hành các hệ thống hướng dẫn chính là các cấu trúc - lưới năng lượng xoắn ốc được đặt trong luân xa tim của đức Hành Tinh Thượng Đế để giúp hướng dẫn mở rộng ý thức của các sinh mệnh trên hành tinh. Các cấu trúc năng lượng xoắn ốc này như các tấm lưới, có khả năng tích hợp với năng lượng đến từ các nguồn là các sinh mệnh vũ trụ hoặc đến từ năng lượng là sự tổng hợp của năng lượng phát ra từ các sinh mệnh vũ trụ. Hệ thống hướng dẫn này sẽ hướng dẫn các sinh mệnh trên hành tinh đi trên con đường dẫn đến sự tiến hóa tâm linh thay vì đi lòng vòng trong nhiều kiếp nhưng không tìm thấy bất kỳ sự tiến hóa nào.

Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ nhập linh hồn của ngài vào toàn bộ hành tinh. Hành tinh lúc này chính là cơ thể vật lý của ngài. Ý Thức của ngài sẽ thâm nhập vào Ý Thức của hành tinh vì vậy cũng sẽ nhận thức được tất cả Ý Thức của tất cả các sinh mệnh khác đang sống trên hành tinh đó. Ngài có trách nhiệm đối với sự tiến hóa của tất cả các sinh mệnh trên hành tinh này. Tất cả các sinh mệnh này thực hiện quá trình tiến hóa của mình trong tâm thức / thể ở các cõi khác nhau hay hào quang của ngài. Nhưng đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ không can thiệp vào ý chí tự do lựa chọn của các sinh mệnh. Ngài xây dựng hệ thống lưới năng lượng để cung cấp năng lượng sống, sinh lực ở tần số rung động cao hơn, truyền tải, chuyển hóa các tia năng lượng đến từ các sinh mệnh vũ trụ khác sao cho phù hợp với các sinh mệnh trên trái đất, đào tạo các điểm đạo đồ, phổ biến kiến thức về tâm linh, thanh lọc Tâm Thức / Ý Thức của hành tinh ... để giúp nâng tần số rung động tổng thể của hành tinh tăng lên, đi vào các chiều kích thực tại cao hơn từ đó trợ giúp sự mở rộng ý thức, chiều kích thực tại của ý thức của tất cả các sinh mệnh trên hành tinh đó. 

Như vậy, đối với mỗi hành tinh, sẽ có đức Hành Tinh Thượng Đế là người đứng đầu chính phủ tâm linh của hành tinh, cũng là người chịu trách nhiệm chính trong việc mở rộng ý thức, tiến hóa tâm linh của mỗi sinh mệnh sống trên hành tinh. Với tình yêu vô điều kiện, ngài phụng sự cho tiến hóa của các sinh mệnh đồng thời cũng là sự tiến hóa của chính ngài trong vũ trụ. Hiểu được điều này sẽ giúp các sinh mệnh trên hành tinh kết nối với ngài, hướng về ngài để thúc đẩy sự tiến hóa của bản thân. Khi sự tiến hóa đến một cấp độ nào đó, có thể trợ giúp đức Hành Tinh Thượng Đế phụng sự các sinh mệnh khác trên hành tinh. 

Sunday, October 25, 2020

Bước nhảy vọt lượng tử trong Ý Thức trên cõi giới Vật Lý

Ý Thức là Tâm Thức Thức Tỉnh cũng chính là tâm thức được biểu lộ qua phương tiện của hình thể tương ứng trên cõi tương ứng. Như trên cõi giới vật lý, phương tiện biểu lộ Ý Thức đó chính là não bộ. Ý Thức là một phần của tâm thức của sinh mệnh ở cõi giới đó. Tùy theo mức độ tiến hóa của sinh mệnh trên cõi giới đó, tùy vào thể/hình thể được tạo dựng cùng với mức độ hòa hợp, hợp nhất của tâm thức và hình thể của sinh mệnh đó trên cõi giới đó mà.

Ý Thức được biểu lộ sẽ có chiều kích thực tại khác nhau. Ứng với chiều kích thực tại khác nhau, mức năng lượng sống, sinh lực của Ý Thức sẽ khác nhau và do đó tần số rung động của nó cũng khác nhau. Do đó, năng lượng sống, sinh lực này sẽ biểu lộ khác nhau ở các thành phần cấu tạo nên não bộ. Cụ thể, ở các tế bào thần kinh như là các thành phần cơ bản nền tảng cấu tạo nên não bộ. Năng lượng sống, sinh lực ở mỗi tế bào thần kinh đến phiên nó lại là tổng thể năng lượng hòa hợp, cộng hưởng của các thành phần nhỏ hơn như các phân tử, nguyên tử, các hạt electron, neutron, neutrino, quart ...; mức năng lượng sống, sinh lực thu vào / sinh ra của các tế bào thần kinh có thể xem như là lượng tử của tế bào thần kinh đó.

Các tế bào thần kinh cần thu nhận năng lượng để tiến hành các hoạt động của mình. Khi các hoạt động này được tiến hành đồng nghĩa với Ý Thức đang hoạt động. Ý Thức có tần số rung động càng cao thì càng cần các tế bào thần kinh hoạt động ở mức năng lượng cao để có thể cộng hưởng với Ý Thức đó và do đó biểu lộ được Ý Thức đó. Do đó, các tế bào thần kinh lúc này sẽ cần các mức lượng tử năng lượng cao hơn. 

Các mức lượng tử năng lượng được cung cấp qua các con đường như hấp thu sinh lực, từ lực từ các tia năng lượng sống đến Trái Đất. Đó chính là năng lượng sống, sinh lực được các sinh mệnh vũ trụ ở cấp độ cao hơn tiến hành chuyển hóa ở mức phù hợp với mức độ phát triển của các sinh mệnh trên Trái Đất. Bên cạnh đó, các mức lượng tử năng lượng này còn có thể thu nhận được qua sự tiếp nhận năng lượng sống, sinh lực từ các sinh mệnh khác cùng vương quốc loài hay khác vương quốc loài. Như nhận năng lượng từ các sinh mệnh cùng loài có mức năng lượng cao hơn hoặc từ thức ăn, nước uống được cung cấp từ các loài khác.

Các mức lượng tử năng lượng này có thể âm hoặc dương tùy thuộc vào năng lượng sống, sinh lực được tiếp nhận mang tính tích cực hay tiêu cực. Nếu một sinh mệnh tiếp nhận các nguồn năng lượng tiêu cực thì khi đó nó sẽ khiến cho tổng thể năng lượng của sinh mệnh đó suy giảm do sự mất mát năng lượng sống, sinh lực khi tiếp nhận một mức lượng tử năng lượng âm và ngược lại.  

Mỗi ngày các sinh mệnh sẽ tiến hành tiếp nhận hoặc cho đi các mức lượng tử năng lượng của mình từ hoặc đến các sinh mệnh khác. Khi tâm thức càng phát triển sẽ kéo theo Ý Thức càng phát triển, khi đó nhận thức rõ ràng hơn về mức lượng tử năng lượng mà sinh mệnh chính mình đang tiếp nhận / cho đi mỗi ngày. Khi đó, sinh mệnh đó sẽ có sự chủ động / kiểm soát trong việc đưa ra các lựa chọn tiếp nhận nguồn năng lượng, sinh lực nào cũng như không tiếp nhận, loại bỏ nguồn năng lượng, sinh lực nào. Điều này sẽ hỗ trợ nhanh hơn cho quá trình tiến hóa của sinh mệnh đó.

Trong một giai đoạn nào đó trong lịch sử tiến hóa của vũ trụ, thiên hà, thái dương hệ, hành tinh. Khi một trong số các sinh mệnh vĩ đại này đạt được các bước tiến hóa rất lớn hay các bước ngoặc đánh dấu sự nâng lên một tầm cao mới thì khi đó, các sinh mệnh đang cư trú bên trong / trên các thể của các sinh mệnh này sẽ có thể có sự tiếp nhận mang tính nhảy vọt của các mức lượng tử năng lượng. Điều này có được do sự cộng hưởng, hòa hợp của tâm thức cùng với não bộ của sinh mệnh đó tạo ra một năng lượng sống, sinh lực có tần số rung động rất cao mà đòi hỏi mức lượng tử năng lượng được tiếp nhận vào cũng phải rất cao - mức lượng tử năng lượng nhảy vọt. 

Khi Ý Thức cùng với não bộ tiếp nhận mức lượng tử năng lượng nhảy vọt thì lúc đó chiều kích thực tại của Ý Thức tăng lên hay có thể nói là bước . Sinh mệnh đó lúc này có thể giao tiếp, liên kết được với các tâm thức, thể của chính mình ở các cõi giới cao hơn cũng như có thể giao tiếp với các sinh mệnh vũ trụ khác có mức tiến hóa cao hơn mình. Khi có sự giao tiếp này xảy ra, sẽ thúc đẩy sự mở rộng của tâm thức cùng với Ý Thức của sinh mệnh đó một cách nhanh chóng, khiến cho quá trình tiến hóa càng diễn ra nhanh hơn.

Bên cạnh sự nhảy vọt lượng tử của Ý Thức có được do sự thăng lên của các sinh mệnh vũ trụ tiến hóa cao thì còn có thể có được từ sự kiến ngộ, chứng ngộ từ sự tu tập hay dưới sự hội tụ của một nhân duyên nào đó của sinh mệnh. Do đó, nếu các sinh mệnh nhận thức được điều này và tiến hành tu tập, đi trên con đường giải thoát thì cơ hội để có được sự nhảy vọt lượng tử trong Ý Thức cao hơn rất nhiều. Thêm vào đó, vì sự thăng lên của các sinh mệnh vũ trụ thường rất hiếm khi có được bởi vì thời gian đạt được sự thăng thiên này rất dài do đó, các sinh mệnh nếu có cơ duyên sống trong thời điểm đó cần phải hết sức trân trọng cơ hội này, cố hết sức để thăng lên Ý Thức trong thời điểm đó. Nếu bỏ lỡ, không biết đến khi nào mới có cơ duyên một lần nữa.

Như vậy, sự nhảy vọt lượng tử của Ý Thức đánh dấu sự tăng lên các chiều kích thực taị cao hơn của Ý Thức. Các sinh mệnh sẽ có các cơ hội mới để mở rộng nhận thức, Ý Thức của mình từ đó mở ra các cơ hội trong sự tiến hóa lên các bậc cao hơn trong nấc thang tinh thần. Nhận thức được điều này sẽ giúp các sin mệnh chủ động tu hành, hoặc nắm bắt cơ hội để có được sự nhảy vọt lượng tử năng lượng này nhằm giúp mình tiến nhanh hơn trên con đường giải thoát. 

Thursday, October 22, 2020

Con đường năng lượng sự sống, sinh lực, từ lực theo cấu trúc cõi giới và chiều kích Vũ Trụ

Vũ Trụ chia làm 352 cõi giới khác nhau. Mỗi cõi giới lại chia thành các cảnh giới (cõi giới phụ). Mỗi sinh mệnh tồn tại trong cõi giới thấp hơn sẽ là sinh mệnh mở rộng của sinh mệnh ở cõi giới cao hơn nào đó. Cũng có thể nói, sinh mệnh ở cõi giới cao hơn là phần tâm thức của chính tâm thức của sinh mệnh mở rộng. Tâm thức thức tỉnh hay ý thức trên mỗi cõi giới ứng với một năng lượng sống, sinh lực hay một tần số rung động nhất định. Nếu tần số này càng ngày càng phát triển cao thì có thể chạm đến, tiếp xúc, cộng hưởng với tâm thức của sinh mệnh cõi giới cao hơn của chính sinh mệnh mở rộng hay cũng chính là mở rộng chiều kích thực tại của chính sinh mệnh mở rộng đó. Có thể nói rằng, năng lượng sống, sinh lực càng lên cõi giới cao hơn càng mạnh mẽ hơn, có tần số rung động cao hơn. Hay năng lượng sống, sinh lực trong vũ trụ được tổ chức theo cấu trúc phân cấp dạng cây từ trên xuống. 

Các sinh mệnh trong vũ trụ là các điểm năng lượng sống, sinh lực. Các sinh mệnh mở rộng được xem như các node lá hay node con của sinh mệnh vũ trụ. Giữa các sinh mệnh vũ trụ và sinh mệnh mở rộng có các liên kết. Cụ thể như là các đường Sinh Mệnh Tuyến, đường Tâm Thức, Đường Cầu Cầu Vồng. Đây chính là các đường thu/phát năng lượng sống, sinh lực, tín tức từ sinh mệnh vũ trụ và các sinh mệnh mở rộng của mình.

Như vậy có thể thấy rằng, các sinh mệnh vũ trụ được bố trí theo cấu trúc phân cấp là các điểm năng lượng sống, sinh lực có cường độ, tần số khác nhau ứng với cõi giới đang sinh mệnh đó đang hiện hữu. Các điểm năng lượng sống, sinh lực này sẽ thu/phát năng lượng dọc theo các con đường kết nối đến các sinh mệnh mở rộng của mình. Không những vậy, tại mỗi điểm năng lượng (sinh mệnh vũ trụ) còn đóng vai trò là điểm tiếp nhận các năng lượng sống, sinh lực cao hơn hoặc đồng cấp để biến đổi thành các mức năng lượng sống, sinh lực thấp hơn phù hợp với các sinh mệnh mở rộng của mình hoặc các sinh mệnh mở rộng khác. Sau đó sẽ phân phối các tia năng lượng sống, sinh lực này đến các sinh mệnh mở rộng ở bên dưới.

Khi một sinh mệnh vũ trụ nào đó thăng lên trong chiều kích thực tại thì tương ứng điểm năng lượng đó sẽ có cường độ, tần số rung động tăng lên. Khi đó, các sinh mệnh mở rộng sẽ nhận được năng lượng sống, sinh lực ứng với cường độ, tần số cao hơn. Đây chính là cơ hội vô cùng quý giá để các sinh mệnh mở rộng nâng cao chiều kích thực tại của mình. Các sinh mệnh mở rộng hoặc là tự điều chỉnh chiều kích thực tại của mình hoặc sẽ phải rời đi đến một nơi khác có cường độ, tần số rung động thấp phù hợp với mình.

Bản thân các sinh mệnh vũ trụ cùng cấp cũng sẽ có các liên kết năng lượng sống, sinh lực với nhau. Sự liên kết này được hình thành dựa trên các trường chung và các trường riêng biệt của mỗi sinh mệnh trong cõi giới/cảnh giới đó. Hay có thể nói, mối liên kết được hình thành dựa trên các sinh mệnh này là Phi Ngã của các sinh mệnh khác và ngược lại. Các mối liên kết này nhiều hay ít, xấu hay tốt tùy thuộc vào các sợi dây nhân quả đã được xác lập giữa các sinh mệnh qua các kiếp sống với nhau. Quy luật nhân quả này xuất phát từ đặc tính của năng lượng sống, sinh lực để nhằm đảm bảo sự cân bằng, tiến hóa lên các mức cao hơn của năng lượng sống, sinh lực. Cũng là mục đích chính của quá trình sáng tạo sự sống của Thượng Đế - Đấng Duy Nhất.

Ví như, khi một sinh mệnh gây ra tổn thương (gây mất mát năng lượng sống, sinh lực) cho một sinh mệnh khác. Khi đó, sinh mệnh gây tổn thương phải bù đắp lại năng lượng này trong kiếp hiện tại hoặc các kiếp tương lai nhằm đảm bảo sự cân bằng năng lượng, công bằng cho sinh mệnh bị tổn thương đồng thời cũng giúp sinh mệnh gây tổn thương học được các bài học của mình, tự nâng cao các chiều kích thực tại để vượt qua những mất mát năng lượng sống này và do đó cả hai sinh mệnh đều tiến lên trên con đường tiến hóa.

Như vậy, có thể thấy năng lượng sống, sinh lực trong vũ trụ không được phân phối không có kiểm soát, tán loạn mà ngược lại, năng lượng này được phân phối theo một cấu trúc phân cấp và được kiểm soát chặc chẻ để tạo ra sự cân bằng, công bằng giữa các sinh mệnh vũ tru. Quan trọng hơn, sự phân phối này đảm bảo mỗi sinh mệnh vũ trụ sẽ nhận được các mức năng lượng sống, sinh lực phù hợp để thực hiện quá trình biến đổi, chuyển hóa, mở rộng của mình để tăng chiều kích thực tại, tiến lên trên con đường tiến hóa.

Wednesday, October 21, 2020

Tạo dựng thực tại từ bước đầu tiên: tạo dựng các trường năng lượng, sinh lực

Phi Ngã, Thực Tại của một sinh mệnh là do năng lượng sống, sinh lực đến từ tâm thức, tâm thức thức tỉnh (ý thức) của sinh mệnh tạo ra trên cõi giới đó. Mỗi sinh mệnh trên mỗi cõi giới sẽ tồn tại trong một trường năng lượng sống có tần số rung động khác nhau và tiếp nhận năng lượng sống, sinh lực đến từ các sinh mệnh khác với cấp độ ứng với cõi giới đó.

Các trường năng lượng sống, sinh lực gồm trường chung và trường riêng của từng sinh mệnh. Trường chung đóng vai trò là nơi tiếp nhận, truyền tải các năng lượng, sinh lực riêng của các sinh mệnh. Thường đó là các trường Ether. Các trường riêng biệt của từng sinh mệnh chứa đựng năng lượng sống, sinh lực có tần số rung động khác nhau ứng với mức độ tiến hóa của sinh mệnh đó. 

Các trường riêng biệt này sẽ tác động lên các sinh mệnh thuộc các vương quốc khác nhau xung quanh, bước đầu tiên chuyển hóa Phi Ngã của sinh mệnh đó. Các trường riêng biệt này khi xuất hiện, sẽ tương tác với trường chung do đó, các sinh mệnh tồn tại trong trường chung đó sẽ bị tác động, chịu ảnh hưởng của trường riêng biệt đó. 

Xuất phát từ những điểm trên có thể thấy rằng, để thay đổi Phi Ngã của các sinh mệnh có cấp độ khác nhau, các sinh mệnh đó cần phải thay đổi các trường riêng biệt của mình. Hoặc các trường riêng biệt đó nên được đặt trong một trường chung nơi có các trường riêng biệt của các sinh mệnh có cấp độ tiến hóa cao hơn. Dưới tác động, ảnh hưởng của các trường riêng biệt có cấp độ tiến hóa cao hơn này sẽ giúp các trường riêng biệt có cấp độ tiến hóa thấp hơn này mở rộng nhận thức, ý thức, tiến lên một cấp độ hợp nhất cao hơn với Thượng Đế.

Khi một sinh mệnh có cấp độ tiến hóa cao muốn trợ giúp các sinh mệnh khác, thường sẽ mang một phần trường riêng biệt cùng với một phần ý thức của mình đặt trong một trường chung ở một cõi giới nào đó. Nếu sinh mệnh đó càng tiến hóa cao thì tác động trợ giúp các sinh mệnh thấp do một phần trường riêng biệt cùng với một phần ý thức này mang lại càng lớn. Một phần trường riêng biệt cùng với ý thức này có thể tương ứng là một sinh mệnh mở rộng của sinh mệnh cấp cao đó. Thông qua sinh mệnh mở rộng này, các tia năng lượng từ các sinh mệnh ở cõi giới cao hơn được truyền qua, đến các sinh mệnh ở cõi giới thấp. Cũng như thông qua sinh mệnh mở rộng này, các sinh mệnh cấp thấp trong cõi giới đó sẽ có được một điểm là trung tâm mạng lưới kết nối các sinh mệnh thuộc các vương quốc khác nhau lại. 

Các sinh mệnh thuộc các vương quốc khác nhau trong một cõi giới thường rất khó giao tiếp được với nhau do sự sai khác quá lớn về các trường năng lượng sống, sinh lực riêng biệt. Cho nên, để có thể giao tiếp được, cần một nơi trung chuyển, điều chỉnh năng lượng đến tần số phù hợp với các sinh mệnh thuộc các vương quốc khác nhau. Nhờ vào sinh mệnh mở rộng này, mà các sinh mệnh thuộc vương quốc khác nhau có thể trợ giúp lẫn nhau cùng tiến hóa. Sự hi sinh phục vụ, sự trợ giúp của sinh mệnh thuộc vương quốc này sẽ giúp sinh mệnh vương quốc khác tăng năng lượng sáng tạo, tăng kiến thức, tăng lòng biết ơn ... trong khi các sinh mệnh ở các vương quốc phục vụ cũng vì thế mà gia tăng tình yêu, sự hi sinh, ... Hay chính là tương hỗ nhau để tiến hóa.

Như vậy, Thực Tại của mỗi sinh mệnh là do năng lượng sống, sinh lực riêng biệt của sinh mệnh đó tạo thành. Chịu tác động của các trường chung, riêng biệt của các sinh mệnh khác xung quanh. Do đó, nhận thức được điều này sẽ giúp mỗi sinh mệnh hiểu rõ nên làm gì, tiếp xúc với sinh mệnh nào để nâng cao tầm nhận thức, ý thức của mình. Đồng thời nhận ra rằng, tất cả các sinh mệnh trong một kế hoạch tổng thể chung đều đang cùng nhau làm việc, cùng giúp đỡ, tương hỗ lẫn nhau để tiến hóa. Vì thế, cần mở rộng nhận thức liên quan đến vấn đề lắng nghe, trao đổi với các sinh mệnh thuộc các vương quốc khác nhau.

Tuesday, October 13, 2020

Biểu lộ Ý Thức của các cõi giới Linh Hồn, Tinh Thần của sinh mệnh thông qua phương tiện vật lý cõi Hồng Trần

Bộ não là phương tiện vật lý để biểu lộ Ý Thức (Tâm Thức Thức Tỉnh) của các sinh mệnh trên cõi Hồng Trần. Tùy thuộc mức độ tiến hóa khác nhau mà Ý Thức được biểu lộ qua bộ não có chiều kích thực tại khác nhau. Thông qua sự thức tỉnh và quá trình tu tập, chiều kích thực tại của Ý Thức trên cõi Hồng Trần sẽ thay đổi và do đó, biểu lộ của nó thông qua bộ não cũng sẽ thay đổi. 

Bản thân bộ não vật lý được cấu tạo với các quan năng có khả năng truyền nhận các tín tức với nhiều tần số rung động ứng với các tần số rung động của năng lượng, sinh lực sống ở các cõi giới khác nhau. Với mỗi sinh mệnh, các thể của sinh mệnh đó ở các cõi giới trên hành tinh cũng sẽ có các quan năng liên kết với thể vật lý mà cụ thể là não bộ. Nhưng tại mỗi thời điểm trong tiến trình tiến hóa của mỗi sinh mệnh, khả năng tiếp nhận và phản hồi các tín tức này sẽ khác nhau dẫn đến chiều kích thực tại của Ý Thức vì thế cũng khác nhau.

Tâm thức của cõi Hồng Trần ứng với chiều kích thực tại thứ nhất - chiều kích vật chất. Tâm thức của cõi Trung Giới ứng với chiều kích thực tại thứ hai - chiều kích xúc cảm. Tâm thức của cõi Hạ Trí ứng với chiều kích thứ ba - chiều kích trí cụ thể, phân biệt. Phàm nhân bao gồm tâm thức / thể tương ứng với ba cõi này trên hành tinh nên Phàm Ngã (Bản Ngã của phàm nhân) sẽ bao gồm tổ hợp Tâm Thức Thức Tỉnh (Ý Thức) của tâm thức trên các cõi này. 

Với Phàm Ngã, sinh mệnh sẽ có nhận thức về bản thân mình hay định danh mình chính là sự kết hợp của thân thể vật lý, xúc cảm và lý trí cụ thể. Đây là cấp độ tự nhận thức mang tính cá nhân riêng biệt, phân biệt, gắn liền sinh mệnh với cơ thể vật lý nên Phàm Ngã lúc này sẽ có sự chú trọng vào thân thể, xúc cảm, lý trí của riêng mình. Do đó, với nhận thức này, Phàm Ngã sẽ khiến cho sinh mệnh đó chú trọng, dính mắc vào những gì mang lại lợi ích cho cơ thể, xúc cảm và lý trí của mình như chú trọng vào đời sống vật chất, cố gắng đáp ứng các dục vọng để thỏa mãn xúc cảm, lý trí. Đây là những nhận thức sai lầm của Bản Ngã khiến cho tần số rung động chung của Bản Ngã ở mức thấp, nên khi biểu lộ qua bộ não sẽ đưa ra các mệnh lệnh, thông điệp sai lầm đến các cơ quan hành động khác. Và đến lượt các hành động sai lầm này sẽ tạo ra các nghiệp quả mà bản thân sinh mệnh đó phải gánh trong nhiều kiếp sống của mình.

Khi Phàm Ngã tiến hóa lên cao, sẽ không còn những sự tự nhận thức cơ thể vật lý, xúc cảm, lý trí như là định danh của mình thì lúc đó, sẽ không dính mắc vào các ý niệm sai lầm (các vọng tâm, vọng tưởng). Khi đó, các ý niệm này sẽ trở nên thanh cao hơn dẫn đến tần số rung động của Phàm Ngã cũng sẽ tăng cao lên. Khi tần số rung động Phàm Ngã tăng cao sẽ có khả năng hòa hợp, cộng hưởng với các tần số rung động của Tâm Thức Thức Tỉnh ở các cõi giới cao hơn, cụ thể như cõi Linh Hồn, Tinh Thần. Khi đó, tổ hợp Tâm Thức Thức Tỉnh hình thành nên Ý Thức của phàm nhân sẽ không chỉ ở ba cõi giới thấp, mà có cả các cõi giới cao. Tổ hợp này khiến cho tần số rung động của Ý Thức tăng cao. Chiều kích thức tại của Ý Thức tăng lên. Vì vậy, các quan năng vật lý biểu lộ của Ý Thức trên cõi Hồng Trần sẽ phải thay đổi. Cụ thể ở đây, bộ não sẽ phải điều chỉnh để cho phép các biểu lộ của một Ý Thức cao hơn xảy ra. 

Thông thường, để biểu lộ Ý Thức ở ba chiều kích thực tại thấp, não bộ sẽ dùng khoảng 10% chức năng của não và tập trung chủ yếu ở bán cầu não trái. Khi Ý Thức tăng lên, các chiều kích thực tại của nó tăng lên thì não bộ sẽ sử dụng 90% chức năng còn lại để biểu lộ và tập trung chủ yếu ở não phải.

Bên bán cầu não phải, chứa các quan năng có khả năng thu nhận các tín tức từ các cõi giới cao của sinh mệnh. Các tín tức này đến không phải thông qua quá trình tư duy, suy đoán, phán đoán, phân biệt cụ thể nên thường được xem như là kết quả của trực giác. Việc tiếp nhận, tin tưởng trực giác sẽ cũng cố, tăng cường sự phát triển con đường vận hà loại tín tức này. Khi lượng tín tức này đóng góp càng nhiều vào trong Ý Thức của phàm nhân, thì nhận thức của phàm nhân sẽ tăng lên càng cao. Nhận thức càng cao, chiều kích thực tại của Ý Thức càng cao càng cũng cố hơn nữa sự tiến hóa của sinh mệnh đó. Sinh mệnh với sự tiến hóa càng cao, sự biểu lộ của Ý Thức qua não bộ sẽ đưa ra các mệnh lệnh để hành động một cách đúng đắn, thanh cao. Điều này sẽ giúp cho sinh mệnh đó kết thúc nhân quả, tạo thêm nhiều công đức, phát triển con đường tâm linh và đạt được sự giải thoát.

Như vậy, chỉ với việc giúp Bản Ngã nhận ra những nhận thức sai lầm của mình, hiểu rõ về định danh của mình trên hành tinh cũng như trong toàn vũ trụ sẽ giúp bản ngã mở rộng các chiều kích thực tại cho Ý Thức của mình. Điều này sẽ là bước ngoặc lớn mà từ đó kéo theo sự tăng trưởng mạnh mẽ trên con đường tiến hóa tâm linh của sinh mệnh đó. Đến lượt sự tiến hóa này giúp sinh mệnh đó thoát khỏi luân hồi, giải thoát và trở về hợp nhất với Thượng Đế.


Sunday, October 11, 2020

Cầu nguyện năng lượng Mahatman

 “Tôi lựa chọn chấp nhận và kêu gọi sự thâm nhập sâu của năng lượng Mahatma vào toàn

bộ ma trận năng lượng của tôi, từ đó cho phép mở ra hoàn toàn sự tỏa sáng của Cái Tôi

Thần Thánh của tôi trong việc phụng sự cái Tất Cả Là, ngay bây giờ”

Chuyển hóa sự sống/tâm thức/tinh thần thành sắc tướng/khuôn mẫu/vật chất và ngược lại


Năng lượng sống, sinh lực với một tần số rung động nào đó dưới tác động của các quy luật biến đổi năng lượng sẽ chuyển hóa thành năng lượng sống, sinh lực với một tần số rung động khác. 

Tùy theo tần số rung động mà năng lượng sống này sẽ xuất hiện dưới dạng có hình thể hay được chứa đựng trong các hình thể hay không.

Hình thể tùy theo tần số rung động của nguyên tử/vật chất cấu thành. Tần số càng cao thì hình thể càng thanh khiết, linh hoạt, nhẹ nhàng và dễ dàng được hình thành cũng như hủy diệt. Ngược lại, tần số nguyên tử/vật chất có tần số rung động càng thấp thì hình thể càng trọng trượt, bền chắc, nặng nề và khó khăn để hình thành cũng như phá hủy. Điều này tương ứng với các hình thể hình thành trên các cõi giới khác nhau. Như vậy, các hình thể hình thành trong cõi giới vật lý là các hình thể vật lý. Các hình thể này thường đậm đặc, trọng trược.

Các hình thể xuất hiện sẽ tương ứng với việc tiêu tốn hoặc giải phóng một lượng năng lượng, sinh lực sống nào đó. Do đó việc chuyển các hình thể về lại dạng năng lượng, sinh lực sống thì cũng cần hoặc là tiêu tốn hoặc giải phóng một năng lượng, sinh lực sống tương ứng. Hình thể có tần số rung động càng cao thì việc tiêu tốn hoặc giải phóng năng lượng, sinh lực sống sẽ càng lớn. Đối với các hình thể vật lý, tần số cùng với khối lượng vật lý của hình thể quyết định mức năng lượng, sinh lực sống tiêu tốn hay giải phóng. Bên cạnh đó, độ bền chặt cùng với thời gian tồn tại của hình thể vật lý cũng liên quy định mức năng lượng, sinh lực sống này.

Năng lượng, sinh lực sống để hình thành các hình thể sẽ bao gồm năng lượng, sinh lực hình thành các khuôn mẫu cùng với thu hút vật chất đến, liên kết với nhau để tạo hình cho khuôn mẫu. Để làm được điều này, các hình thể khác nhau sẽ cần các dạng năng lượng sáng tạo khác nhau phù hợp để tạo khuôn mẫu cũng như tạo hình hình thể. Trong vũ trụ tồn tại vô số các tia chứa vô vàn các dạng năng lượng sáng tạo từ các sinh mệnh khác nhau phục vụ cho các công việc sáng tạo hình thể này. 

Các tia chứa năng lượng, sinh lực sáng tạo này được cung cấp bởi các sinh mệnh khác nhau tùy cấp độ hình thể vật lý của sinh mệnh nào. Các cấp độ sinh mệnh khác nhau cần nguồn cung cấp năng lượng đến từ các sinh mệnh có cấp độ tiến hóa khác nhau. Ví như đồ vật được tạo thành hoặc hủy diệt từ nhân loại thì cần nguồn cung cấp năng lượng, sinh lực sống đến từ sinh mệnh nhân loại. Ví như các cơ thể vật lý của nhân loại thì cần năng lượng, sinh lực sống đến từ các Hành Tinh Thượng Đế, các Nghiệp Quả Tinh Quân ... 

Tại một thời điểm, một hình thể nhận được rất nhiều năng lượng, sinh lực sống tương tác với nó. Tuy nhiên, cũng chỉ có những năng lượng, sinh lực sống nào thỏa mãn tần số mới có thể cộng hưởng hoặc hủy diệt nó. Có những hình thể vật lý cần những dạng năng lượng, sinh lực sống đặc biệt mới có thể làm biến đổi tần số rung động của chúng. Do đó, trong chuỗi tiến hóa của mình, các sinh mệnh sẽ có các cơ duyên trong một giai đoạn nào đó, thu nhận được các năng lượng, sinh lực sống này. Cũng có nghĩa là, trong các giai đoạn khác nhau của chuỗi tiến hóa, các sinh mệnh trong một khu vực nào đó của vũ trụ sẽ nhận được các tia chứa năng lượng, sinh lực sáng tạo đến từ các sinh mệnh cấp cao hơn khác nhau. Khi các sinh mệnh này tiến hóa lên bậc cao hơn hoặc có sự tham gia nhiều thêm, bớt thêm của các sinh mệnh vũ trụ này nhằm hỗ trợ cho một khu vực nào đó trong vũ trụ sẽ khiến các sinh mệnh trong khu vực đó tiếp nhận được nhiều thêm cũng như sự đa dạng của các tia năng lượng, sinh lực sáng tạo và do đó, tăng cao cơ hội tìm thấy các tia năng lượng, sinh lực sống phù hợp để có thể hủy diệt các hình thể cũ và hình thành các mới. Đây là những thời kỳ vô cùng quan trọng và thường là cơ hội chỉ có một vài lần trong suốt một Ngày Vũ Trụ. 

Như vậy, việc hiểu rõ sự chuyển hóa (kết tủa năng lượng, sinh lực sống hay tan ra các hình thể) sẽ giúp các sinh mệnh lựa chọn, tìm kiếm, vận dụng các tia năng lượng, sinh lực sáng tạo phù hợp với mình trong các thời kỳ tiến hóa khác nhau của sinh mệnh mình nhằm đạt được sự chuyển hóa nhanh hơn, nhất là trong các giai đoạn đặc biệt của sự tiến hóa của các hành tinh, thái dương hệ, thiên hà.

Saturday, October 10, 2020

Mối quan hệ giữa các cõi giới và các chiều kích thực tại cấp độ hành tinh

Trên mỗi hành tinh, mức độ phát triển của tiến hóa được chia làm bảy cấp độ lớn và mỗi cấp độ tiến hóa lại chia thành bảy cấp độ tiến hóa phụ. Mỗi cấp độ tiến hóa ứng với năng lượng sống, sinh lực, từ lực và vật chất cấu tạo khác nhau, có tàn số rung động khác nhau. Các cấp độ tiến hóa này chính là các cõi giới, cảnh giới tương ứng với bảy chiều kích thực tại.

Mỗi thể / tâm thức của mỗi sinh linh sẽ ứng với mỗi cõi giới trên hành tinh vì vậy cũng ứng với một chiều kích thực tại trên hành tinh đó. Một sinh linh tại mỗi thời điểm sống, có sinh mệnh trải dọc trên sáu cõi giới sẽ đồng thời có sau chiều kích thực tại. Sự tự ý thức hay tâm thức thức tỉnh của sinh mệnh đó tiến hóa trên bao nhiêu cõi thì ứng với số chiều kích thực tại nhận thức của sinh mệnh đó bấy nhiêu.

Một sinh mệnh có sự tự ý thức trên mỗi cõi càng phát triển cao thì sinh mệnh đó trên cõi đó sống ở chiều kích thực tại càng cao. Ví như sinh mệnh đang ở cõi vật lý nhưng vì sự tự ý thức đã mở rộng lên đến các cõi Thượng Trí, Bồ Đề thì sinh mệnh đó sống trong chiều kích thực tại thứ tư, thứ năm. Cũng như vậy, nếu một sinh mệnh đang ở cõi vật lý nhưng sự tự ý thức chỉ hạn hẹp trong các cõi Vật Lý, Cảm Dục thì sinh mệnh đó đang sống trong chiều kích thực tại thứ nhất, thứ hai.

Sự tự ý thức của một sinh mệnh càng cao tương ứng với tần số rung động của ý thức đó càng cao. Do đó, dễ dàng hợp nhất hơn với ý thức của sinh mệnh của mình ờ trên cõi giới cao hơn. Nhờ đó, quá trình tiến hóa sẽ diễn ra nhanh hơn. Mỗi khi sự tiến hóa đạt đến một mức nào đó, thường là ý thức làm chủ tư tưởng, hành động của thể của sinh mệnh ở cõi giới đó thì sinh mệnh đó sẽ kết thúc một giai đoạn, mở ra cánh cửa của giai đoạn tiếp theo hay chính là đạt được sự điểm đạo ở cấp độ đó. 

Khi sự tự ý thức của Hành Tinh Thượng Đế thăng lên các chiều kích thực tại cao hơn thì các sinh mệnh sống trên hành tinh đó cũng có sự tự ý thức tăng lên. Sự tăng lên này xuất phát từ tần số các tia sáng xuống hành tinh hay chính bản thân các rung động của năng lượng, vật chất của hành tinh tăng lên, khiến cho sự cộng hưởng tần số chung tăng lên. Đối với các sinh mệnh có tần số không thể cộng hưởng hoặc được điều chỉnh để cộng hưởng được thì sẽ bị đào thải. 

Chiều kích thực tại là tương ứng tư tưởng, xúc cảm, tình yêu, trí tuệ của một sinh mệnh. Nếu chiều kích thực tại thấp thì tư tưởng, xúc cảm, tình yêu, trí tuệ sẽ thấp, tiêu cực, nặng nề, khốn khổ. Ngược lại, chiều kích thực tại cao thì tư tưởng, xúc cảm, tình yêu, trí tuệ sẽ thanh cao, nhẹ nhàng, an lạc. Khi đó, sắc tướng của thực tại cũng vì thế mà biểu lộ ra là các sắc tướng xinh đẹp, hiền hòa, thanh tịnh hay các sắc tướng xấu xí, hung dữ, bất an ổn. Có thể nhìn vào sắc tướng thực tại của một sinh mệnh, cũng có thể đoán biết được một phần nào đó chiều kích thực tại ý thức của sinh mệnh đó.

Sự phát triển lên cao của tâm thức, sự tự nhận thức ở các cõi của sinh mệnh sẽ kéo theo tâm thức, sự tự ý thức của sinh mệnh ở cõi khác được nâng cao nếu có sự kết nối, đang trong quá trình hợp nhất giữa các tâm thức / thể của sinh mệnh đó. Đến một giai đoạn nào đó, sự hợp nhất xảy ra hoàn toàn và lúc đó sinh mệnh đó sẽ có các thể / tâm thức / tâm thức thức tình cùng tồn tại trên cùng một chiều kích thực tại chứ khổng chỉ là tâm thức thức tỉnh tồn tại ở chiều kích thực tại cao hơn chiều kích thực tại của thể của sinh mệnh đó.

Như vậy, giữa các thể / tâm thức / tâm thức thức tỉnh có mối quan hệ chặc chẽ với nhau. Chiều kích thực tại có được cao hay thấp là do góc độ xem xét cõi giới đang tồn tại của sinh mệnh đó. Thể / tâm thức trên cõi giới càng cao thì chiều kích thực tại của sinh mệnh càng cao. Tuy nhiên, có những sinh mệnh đang được xem xét thể / tâm thức ở cõi giới thấp nhưng chiều kích thực tại của sinh mệnh đó lại cao. Điều này nhờ vào sự phát triển cao của sự tự ý thức. Hiểu rõ điều này, sẽ giúp mỗi sinh mệnh nâng cao trí tuệ của mình, chuyên cần, bền bỉ thực hành hạnh nguyện đã lập, đưa tư tưởng, xúc cảm ổn định ở tần số rung động của các cõi cao hơn từ đó sống trong nhận thức ở chiều kích cao hơn. Do đó cũng thúc đẩy con đường tiến hóa nhanh hơn.  

Tuesday, October 6, 2020

Sự sống và các khuôn mẫu năng lượng sống

Sự sống với mong muốn biểu lộ sự sống sẽ định hình các quy luật sự sống, dưới tác động của các quy luật này sẽ định hình các khuôn mẫu tinh thần, khuôn mẫu sắc tướng dẫn đến các biểu lộ hành vi, tư tưởng, hình thể của các khuôn mẫu đó. Ví dụ như sự sợ hãi, sự kinh hoảng, sự ích kỷ, sự hẹp hòi, sự vui vẻ, sự tích cực ...

Các dạng khuôn mẫu này do sự kết hợp các nguyên tử cùng hoặc gần tần số rung động tạo thành. Cách thức kết hợp khác nhau tạo thành các khuôn mẫu khác nhau và dẫn đến biểu lộ cũng khác nhau. Sự kết hợp tạo thành khuôn mẫu chi phối tư tưởng, hành vi, hình thể trong nhiều kiếp sống khác nhau sẽ đươc tàng lưu trong tiềm thức, trở thành các ký ức có thể ý thức được hoặc không ý thức được nhưng vẫn tiếp tục chi phối kiếp hiện tại hoặc các kiếp tiếp theo của sinh mệnh đó. 

Dựa trên sự tiến hóa của linh hồn mở rộng, nghiệp quả của các kiếp sống và kế hoạch học tập trong kiếp sắp tới của sinh linh, sẽ xác định loại, lượng, cách thức kết hợp các nguyên tử tạo nên khuôn mẫu của mình hay cụ thể hơn, chính là xác định cấu trúc cung, cấu trúc chiêm tinh hay cấu trúc các dạng năng lượng sống, sinh lực, từ lực của sinh linh đó từ đó quy định các khuôn mẫu về hành vi, hình thể của sinh linh đó trong kiếp sống sắp đến. Điều này đúng cho tẩt cả các dạng sống khác. 

Các khuôn mẫu này quy định các kết cấu cơ bản, nền tảng của hành vi, hình thể tuy nhiên, các diện mạo bên ngoài có thể thay đổi được được tương đối dễ dàng dựa trên những biến đổi do những trải nghiệm cùng lựa chọn của sinh linh đó trong kiếp sống sắp tới của mình. Việc thay đổi kết cấu nền tảng thường khó hơn nhiều, để làm được điều đó cần phải có những biến đổi rất lớn đủ khả năng tạo ra các năng lượng với tần số rung động biến thiên rất cao hoặc rất thấp với một cường độ rất lớn. 

Với mỗi sinh linh, khuôn mẫu cho mỗi kiếp sống chân chính là lựa chọn cũng như trách nhiệm cần có cho trải nghiệm của kiếp sống đó. Việc hiểu rõ được cấu trúc cung, cấu trúc chiêm tinh của mình và mục đích cuộc đời sẽ giúp sinh linh đó có bước tiến quan trọng trong nhận thức. Từ đó, sẽ đưa ra những lựa chọn sáng suốt trong đời sống. Nếu những lựa chọn đó liên quan đến phát triển tâm linh sẽ giúp cho sinh linh đó có những bước tiến vượt bậc trong con đường tiến hóa của chính mình. Khi đời sống cùng nhận thức tâm linh phát triển, sinh linh đó sẽ nhận ra rằng việc thanh lọc các tâm thức / thể của sinh mệnh mình chính là loại bỏ các khuôn mẫu tiêu cực khỏi ý thức lẫn tiềm thức của sinh mệnh đó đồng thời phát triển các khuôn mẫu tích cực có tần số rung động cao. Nếu giữ vững ý chí, bền bỉ, kiên trì thực hiện những điều này thì rất nhanh, sinh linh sẽ đặt chân trên con đường đạo.

Như vậy, khuôn mẫu năng lượng sống là định mệnh do chính bản thân sinh linh lựa chọn cho mình trong các kiếp sống để trải nghiệm các bài học mới, trả nợ cho các bài học cũ. Những lựa chọn được đưa ra qua các trải nghiệm cùng với những hành động cho các lựa chọn đó sẽ tác động đến các khuôn mẫu ngay trong kiếp sống hiện tại và các kiếp sống trong tương lai. Do đó, với mỗi kiếp sống, cần phải đưa ra các lựa chọn một cách cẩn thận để giúp bản thân tạo dựng ra các khuôn mẫu tốt hơn trong tương lai, giúp bản thân tiến nhanh hơn tới mục đích cuộc đời của mình. 

Saturday, October 3, 2020

Sự sống và các quy luật của Đấng Duy Nhất

Các quy luật xuất phát từ Đấng Duy Nhất, là đặc tính của năng lượng sống của Đấng Duy Nhất. Giống như Ý Chí, Minh Triết, Hành Động. Biểu lộ thông qua sự biểu lộ của sự sống. Các quy luật của Đấng Duy Nhất có được từ Đại Ngã của ngài. Các quy luật của Vũ Trụ có được thông qua Ý Thức Vũ Trụ (Ý Thức của Vũ Trụ Thượng Đế). Các quy luật Thiên Hà có được thông qua Ý Thức Thiên Hà (Ý Thức của Thiên Hà Thượng Đế). Các quy luật của Thái Dương hệ có được thông qua Ý Thức Thái Dương hệ (Ý Thức của Thái Dương Thượng Đế). Các quy luật của Trái Đất có được thông qua Ý Thức Hành Tinh (Ý Thức của Hành Tinh Thượng Đế) và các quy luật của các quốc gia, bang, ngành, tổ chức ... có được thông qua Ý Thức của Tập Thể các Linh Hồn mở rộng. Các quy luật chung quy chính là tư tưởng của các Ý Thức ở các cấp độ tiến hóa khác nhau. Các tư tưởng đến lượt chúng chính là năng lượng sự sống ở có các tần số rung động khác nhau. Ứng với cấp độ phát triển của Ý Thức mà tần số năng lượng khác nhau và do đó cũng phù hợp với tần số nang lượng tiến hóa chung của cõi/nơi mà các quy luật đó chi phối.

Bản thân các quy luật cũng tuân theo luật tương ứng, tức là các quy luật đều áp dụng từ cõi cao nhất xuống cõi thấp nhất. Tuy nhiên, biểu lộ của các quy luật tại các cõi khác nhau là khác nhau, sự tác động của các quy luật lên tâm thức cũng như hình thể tại các cõi khác nhau sẽ mang lại các biểu lộ khác nhau. Nguyên nhân chính vẫn là do các quy luật chung quy vẫn là năng lượng sống. Năng lượng khác tại các cõi/nơi khác nhau có tần số rung động khác nhau nên có thể chi phối/cộng hưởng với các tâm thức/thể ở tại các cõi/nơi tương ứng đó.

Các quy luật tác động lên tâm thức, hình thể sẽ mang đến các kết quả là các biểu lộ - một tâm thức, hình thể có sự biến đổi tương ứng với sự tác động của quy luật. Các quy luật không cố định, sẽ thay đổi tùy theo sự tiến hóa của các Ý Thức tạo nên các quy luật đó cũng như Ý Thức chung của các sinh linh chịu tác chi phối/tác động bởi các quy luật đó. Điều này cũng nằm trong sự chuyển dịch chung của vạn vật trong Vũ Trụ cũng như chính bản thân các Vũ Trụ, Thượng Đế Vũ Trụ.

Sự tiến hóa cùng tất cả những gì diễn ra phục vụ cho quá trình tiến hóa trong mỗi kiếp sống của mỗi sinh linh là do sự kết hợp của sự tiến hóa tâm thức, kết quả lựa chọn của linh hồn trong các kiếp sống đã trải qua cùng với sự chi phối/tác động của các quy luật, là nơi sinh linh đó trải qua kiếp sống của mình. Tất cả hình thành nên số mệnh chân chính của mỗi sinh linh trong mỗi kiếp sống của mình. Không có Ý Thức tiến hóa cao nào quy định số mệnh của các sinh linh đó ngoại trừ những điều được liệt kê trên. Do đó, có sự thấu hiểu về các quy luật, thấu hiểu sự chọn lựa của chính mình sẽ quyết định số mệnh của chính mình cũng như mục đích cuộc đời qua các kiếp sống của mình là gì, cách nào và bao xa nữa sẽ đạt được mục đích đó.

Như vây, giống như luật pháp là một biểu lộ ở cõi vật lý của các quy luật vũ trụ nhằm giúp duy trì sự ổn định, công bằng của xã hội, nâng cao ý thức đạo đức, tri thức thì các quy luật ở các cõi khác cũng như vậy. Chung quy vẫn là chuyển đổi sinh linh theo hướng tự nhận thức, tự đưa ra lựa chọn tốt hơn phục vụ cho sự tiến hóa của mình cũng như các chúng sinh khác. Hiểu được điều này thì chỉ cần thuận theo các quy luật để sống, trải nghiệm có thể giúp chúng sinh nhanh chóng tăng trưởng trí tuệ của mình, nhanh chóng giải thoát khỏi luân hồi sinh tử, đi vào con đường niết bàn và phụng sự các sinh linh khác cũng đạt được sự giải thoát như bản thân mình.

Wednesday, September 30, 2020

Sự sống và mười hai cung (ray)


Mười hai cung là năng lượng sự sống ở cấp độ vũ trụ tác động đến các chân thần trong công cuộc tiến hóa. Ngoài chân thần ra, mười hai cung cũng là năng lượng biểu lộ sự sống tác động đến các sinh linh cấp độ khu vực, quốc gia, hành tinh, thái dương hệ, thiên hà, vũ trụ. Ứng với từng giai đoạn, các sinh linh được liệt kê trên sẽ có năng lượng sự sống ứng với các cung với trọng số các cung khác nhau. 

Đối với mỗi sinh linh trong vũ trụ kể cả bản thân Vũ Trụ Thượng Đế cũng ứng với một nguồn năng lượng sự sống đến từ Đấng Duy Nhất. Nguồn năng lượng sự sống này khi đi xuống các cõi sẽ có tần số rung động khác nhau ứng với các cõi giới cũng như mức độ phát triển của tâm thức / thể của sinh linh trong cõi giới đó. Tâm thức / thể của mỗi sinh linh ở các cõi sẽ ứng với một cung - mà năng lượng của cung ứng với một dạng biểu lộ các thuộc tính của sự sống khác nhau.

Bên cạnh sự thay đổi các cung ứng với các tâm thức / thể ở các cõi theo chiều đi xuống của một sinh linh thì mỗi sinh linh còn chịu ảnh hưởng, tác động không nhỏ của cung ứng với tâm thức / thể của sinh linh cao hơn - sinh linh sáng tạo / cai quản sinh linh đó. Ví dụ như giữa nhân loại với Hành Tinh Thượng Đế, Thái Dương Thượng Đế, Thiên Hà Thượng Đế, Vũ Trụ Thượng Đế.

Mỗi sinh linh nếu có tâm thức / hình thể ở các cõi cao ứng với một cung nào đó thì sẽ đạt được những đức tính tích cực thuộc cung đó và ngược lại, nếu có tâm thức / hình thể ở các cõi thấp ứng với một cung nào đó thì thường sẽ chịu tác động bởi những đức tính tiêu cực thuộc cung đó. Mỗi cung đều chứa đựng năng lượng sống biểu lộ các đức tính ở hai mặt tích cực và tiêu cực.

Năng lượng của các cung (tia) này đi xuống từ Đấng Duy Nhất, sau đó đi qua bảy sao thuộc chòm sao Great Bear của Ngân Hà, tiếp đến đi qua mười hai cung Hoàng Đạo. Tiếp đến đi vào bảy mặt trời của bảy thái dương hệ, sau đó đi đến từng hành tinh. Tại các điểm mà các cung này đi qua, năng lượng sẽ được các thượng đế ở các điểm đó chuyển hóa thành năng lượng tương ứng. 

Tại mỗi thời điểm, các hành tinh cũng như các thái dương hệ có mức độ tiến hóa khác nhau sẽ ứng với năng lượng sống thuộc về một cung chính nào đó. Tuy vậy, năng lượng sống của các cung khác vẫn có tác động ít nhiều đến các thái dương hệ, hành tinh. Điều đó một lần nữa khẳng định, sự sống và tiến hóa của chúng sinh trong một hành tinh nào đó phụ thuộc chính vào sự sống, tiến hóa của thái dương hệ, thiên hà và vũ trụ mà các sinh linh đó thuộc về.

Các cung có năng lượng sống ứng với các cõi giới vũ trụ, ứng với các cung Hoàng Đạo, ứng với các sao thuộc chòm sao Great Beer, ứng với các chiều kích thực tại, ứng với các màu sắc phản ánh năng lương. Cụ thể, đối với hành tinh Trái Đất, hiện tại có mười hai cung mang năng lượng sống trải xuống như sau: 

- Cung thứ nhất, ý chí hay quyền lực, sức mạnh có màu sắc là màu đỏ.

- Cung thứ hai, tinh yêu, minh triết có màu sắc là màu xanh lam đậm.

- Cung thứ ba, trí tuệ linh hoạt

- Cung thứ tư, hòa hợp thông qua xung đột, mỹ lệ và nghệ thuật có màu sắc là xanh ngọc lục bảo.

- Cung thứ năm, tri thức cụ thể và khoa học có màu sắc là màu cam.

- Cung thứ sáu, lý tưởng sùng tín và sự hiến dâng có màu sắc là màu chàm.

- Cung thứ bảy, trực tự nghi lễ và huyền thuật có màu sắc là màu tím.

- Năm cung còn lại là năm cung cao hơn, chính là sự kết hợp tia sáng của bảy cung trên cùng với ánh sáng nguồn cội.

- Cung thứ tám, loại bỏ năng lượng có tần số rung động thấp, nâng cao tần số năng lượng của sinh linh, có màu sắc là màu xanh tím.

- Cung thứ chính, niềm vui, được sử dụng để thu hút cơ thể ánh sáng.

Như vậy, mỗi ngày qua đi, năng lượng sống của mười hai cung sẽ chiếu xuống hành tinh Trái Đất. Mỗi sinh linh khác nhau sẽ hấp thụ hoặc chống lại các tia khác nhau phụ thuộc vào mức độ tiến hóa của sinh linh đó. Sinh linh có các tâm thức / thể ở các cõi giới ứng với các cung khác nhau dựa trên sự thay đổi của tần số rung động và sự tiến hóa của mình mà có sự thay đổi các cung cho các tâm thức / thể ở các cõi ngay trong kiếp sống hiện tại hoặc tạo tiền đề cho sự thay đổi trong kiếp sống tiếp theo. Việc hiểu rõ tầm quan trọng của các cung, ảnh hưởng của các cung đến sự tiến hóa của bản thân cũng như sự tiến hóa của bản thân sẽ dẫn đến sự thay đổi các cung trong cấu trúc tâm thức - hình thể của mỗi sinh linh sẽ góp phần giúp sinh linh đó đạt được nhiều kết quả tốt hơn trong con đường tiến hóa của mình.


Sunday, September 20, 2020

Sự chuyển đổi, giải phóng năng lượng tiêu cực

Năng lượng sống là biểu lộ của sự sống. Mức độ tiến hóa khác nhau của sự sống sẽ biểu lộ năng lượng khác nhau. Những năng lượng tiêu cực có tần số rung động thấp ứng với mức độ tiến hóa thấp trong khi đó, mức độ tiến hóa cao sẽ ứng với năng lượng có tần số rung động cao. Sự cứu độ, giúp đỡ các dạng sống, không có gì quan trọng bằng việc nâng cao tần số rung động của các dạng sống hay sinh linh đó. Bên cạnh đó, sự giúp đỡ cũng bao gồm việc thanh lọc, giảm thiếu năng lượng tiêu cực đến các sinh linh trong một không-thời gian đó.

Sự chuyển đổi, giải phóng năng lượng tiêu cực diễn ra ở các cấp độ phạm vi khác nhau. Tử một sinh linh cụ thể, đến một khu vực, hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ, các vũ trụ cao hơn. 

Đối với một sinh linh cụ thể, việc giáo hóa hay là quá trình độ đức hạnh cho sinh linh đó sẽ giúp sinh linh từ từ nâng cao tần số rung động của mình. Việc giúp đỡ vật chất chỉ cần thiết ở một mức độ và một thời điểm nào đó, ví dụ như khi sinh linh đó không có khả năng sinh tồn, có thể sẽ mất đi cơ thể nếu không được cung cấp vật chất ngay tại lúc đó. Nếu cung cấp liên tục vật chất cho sinh linh sẽ dẫn đến những hệ quả xấu như gia tăng các đức tính xấu (tính ỷ lại, dựa dẫm, vô ơn ...) của sinh linh và như thế vô hình chung khiến cho tần số năng lượng của sinh linh đó không những không tăng lên mà còn giảm đi nhiều nữa.

Đối với khu vực, hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ thì ngoài việc giáo hóa, độ tất cả sinh linh có thể độ để nâng cao tần số rung động tập thể thì còn phải có sự giúp đỡ về việc giải phóng, chuyển hóa tất cả các năng lượng xấu tồn tại dưới dạng các hình tư tưởng tiêu cực trong các cõi giới khác nhau. Ở cõi giới nào, sẽ có tương ứng các đấng quang minh giúp đỡ làm các công việc chuyển đổi, giải phóng này tại các cõi giới đó. Sự chuyển hóa, giải phóng này là thực hiện cộng hưởng, đồng hóa, thôn tính các năng lượng tiêu cực và trả lại năng lượng tinh thuần hơn tương ứng trong cõi giới đó.

Bản thân mỗi hành tinh nơi sinh linh sinh sống cũng sẽ có các đấng quang minh thực hiện các công việc này nên sẽ có các giai đoạn thanh lọc hành tinh. Cụ thể như Trái Đất, sẽ có các giai đoạn được xem như Khải Huyền. Ở các giai đoạn này, Trái Đất sẽ chuyển hóa năng lượng tiêu cực dưới dạng các hình tư tưởng xấu mà các sinh linh tạo thành thành thiên tai, nhân họa. Khi thiên tai, nhân họa xảy ra, cũng là lúc Trái Đất thanh lọc bản thân, nâng cao tần số rung động của mình, bước vào một thời kỳ thăng thiên của bản thân. Khi tần số rung động của Trái Đất tăng lên, sẽ trực tiếp hay gián tiếp thôn phệ các sinh linh có tần số rung động thấp, khiến những sinh linh này buộc phải rời đi khỏi Trái Đất và càng như thế, Trái Đất lại càng thanh sạch hơn, tần số càng được nâng cao hơn.

Đối với các hành tinh, các sinh linh sinh sống trên đó chính là các tế bào. Cơ thể chỉ khỏe mạnh nếu các tế bào khỏe mạnh. Do đó, chỉ khi các sinh linh sống trong đó khỏe mạnh hay có tần số rung động cao thì hành tinh đó mới có thể nâng cao tần số rung động của mình, bước vào các giai đoạn tiến hóa cao hơn, hay bước vào các giai đoạn thăng thiên khác nhau. Trong các giai đoạn, hành tinh, thái dương hệ, hay vũ trụ thăng thiên, sẽ có những giai đoạn thanh lọc xảy ra ở khắp nơi.

Các hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ là các cơ thể vật lý của các thượng đế có cấp độ tiến hóa khác nhau. Các thượng đế này sẽ có các thể khác ở các cõi khác của riêng mình. Khi các tâm thức trên các cõi khác nhau của các thượng đến tiến hóa sẽ dẫn đến các ngã thức tiến hóa, khi đó sẽ xảy ra quá trình thanh tẩy rác tâm linh trong các thể, các tâm thức của các thượng đế ở các cõi của mình. Những giai đoạn này sẽ dẫn đến sự thăng thiên tập thể trong khắp các vũ trụ.

Có thể nói, sự giải phóng, chuyển đổi năng lượng xấu của mỗi sinh linh, khu vực, hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ chính là quá trình trả giá cho các nghiệp xấu của mình. Một khi nghiệp xấu này đã được thực thi, nhân quả liên quan đến nghiệp xấu sẽ chấm dứt. Vì không còn sự quấn thân của nghiệp xấu nữa nên không còn sự ràng buộc cũng chính là nói đến sự nhẹ bước thang mây đi lên một tầm cao mới.

Vì vậy, có thể nói sự giải phóng, chuyển hóa năng lượng là một quá trình giải nghiệp và là một thiết kế vĩ đại của sự sống để đáp ứng sự tiến hóa của sự sống. Mỗi một sinh linh dù ở cấp độ nào của sự sống đều phải đi qua con đường này để tiến về phía trước đến đích của mình, đó là đạt được tự do vô thượng.  

Thursday, September 17, 2020

Các giai đoạn tiến hóa của linh hồn

- Pradeep Vijay -

Thông thường, 1 linh hồn (soul) từ khi xuống trái đất, đầu thai lần đầu tiên, đến lúc được khai sáng, trở về cội nguồn, không tái sinh nữa là khoảng 400 – 500 kiếp sống.
Trong 400 - 500 kiếp sống đó, linh hồn sẽ trải qua 1 quá trình phát triển như sau:
1/ Giai đoạn 1 - Linh hồn trẻ con (infant soul): sống khoảng 10 – 15 kiếp sống đầu tiên
- Đặc điểm: chỉ tập trung vào việc ăn – chơi và ngủ.
- Vì đây là lần đầu tiên, soul xuống trái đất, không có nhiều trải nghiệm, không có nhiều hiểu biết, họ chỉ quan tâm đến bản năng sinh tồn, với rất nhiều nỗi sợ hãi, nên các soul này chỉ ra sức vơ vét để bảo đảm cho sự sinh tồn của chính mình, không quan tâm đến người xung quanh ra làm sao, bị tổn thương như thế nào. Nên giai đoạn này, là lúc tạo ra rất nhiều Bad Karma.
- Thường thấy, họ là những tầng lớp thấp nhất trong xã hội, những người làm công, họ chỉ làm việc để nuôi sống chính bản thân họ, làm việc để có cái cho vào miệng ăn.
2/ Giai đoạn 2 - Linh hồn thiếu niên (teenager soul): Từ kiếp 15 – 30
- Đặc điểm: chỉ tập trung vào POWER - quyền lực.
- Các soul này không muốn làm việc nữa, họ muốn người khác làm việc cho mình, chỉ huy người khác, người khác phải nghe theo ý kiến của mình. Các linh hồn này, tràn đầy năng lượng sống.
- Thường thấy, họ là các leader trong các tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa, các thủ lĩnh tôn giáo, hội nhóm, tăng đoán, các leader của các tổ chức phi chính phủ.
- Và giai đoạn này, cũng là lúc, tạo ra rất nhiều Bad Karma, để chứng tỏ bản thân, bảo vệ quyền lực , POWER, sức mạnh của mình.
3/ Giai đoạn 3 - Linh hồn trẻ (young soul): Từ kiếp 30 – 250
- Đặc điểm: hoạt động trong các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, hội họa, âm nhạc…
- Thường thấy, họ là các Master về sáng tạo, nghệ thuật. Họ giỏi tất cả mọi thứ.
- Và giai đoạn này, các soul đã dừng lại việc tạo Bad Karma mới, và nhận lại các Bad Karma cũ đã được tạo ra trong các kiếp sống đầu tiên, các linh hồn sống với rất nhiều sự chịu đựng, đau khổ.
4/ Giai đoạn 4 - Linh hồn trưởng thành (Adults soul): Từ kiếp 250 – 400
- Đặc điểm: họ bắt đầu đi giúp đỡ, phụng sự cho xã hội, xây trường học, bệnh viện.
- Thường thấy họ trong các tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động từ thiện cho cộng đồng
- Đây là giai đoạn họ “trả nợ liên tục” cho các Bad Karma họ đã tạo ra trong giai đoạn trước. Họ chỉ cảm thấy hạnh phúc khi đi làm từ thiện, khi cho đi, khi phụng sự xã hội.
- Và giai đoạn này, linh hồn không có thực hành thiền định.
5/ Giai đoạn 5 - Linh hồn già (Old Soul): Từ kiếp 400 – 500
Trong giai đoạn này, chia ra làm 2 giai đoạn nhỏ:
Giai đoạn 5.1 - Giai đoạn đầu của linh hồn già (early old soul)
- Họ có rất nhiều thách thức – challenge trong cuộc sống.
- Họ bắt đầu hỏi các câu hỏi, tại sao ?
Một khi linh hồn có các câu hỏi tại sao, đó là dấu hiệu cho thấy, đây là 1 linh hồn già (old soul)
1. Tại sao việc này xảy ra cho tôi ?
2. Tại sao có người giàu, có người nghèo ?
3. Tại sao tôi được sinh ra trong gia đình, có người cha, người mẹ như thế này … ?
- Họ bắt đầu tìm kiếm sự thật, họ đi học rất nhiều các khóa học, gặp rất nhiều các vị thầy chỉ để tìm kiếm sự thật tâm linh, tìm kiếm chân lý
- Họ cầu khấn, tụng niệm, đọc sắc lệnh, mantra, câu chú, kinh kệ để giúp tâm trí tĩnh lặng, tìm kiếm sự bình an, tìm kiếm chân lý
- Họ bắt đầu tìm hiểu đến thiền. Và chỉ có linh hồn già, mới tìm hiểu đến thiền và thực hành thiền định. Các giai đoạn trước sẽ ko bao giờ thiền.
Giai đoạn 5.2 - giai đoạn cuối của linh hồn già (Final old soul), chuẩn bị chuyển tiếp sang giai đoạn linh hồn khai sáng.
- Họ đã trả nợ xong hết tất cả các Bad Karma cũ, dừng tạo ra Bad Karma mới, và họ liên tục tạo mới rất nhiều Good Karma, thông qua phụng sự, giúp đỡ xã hội.
- Các linh hồn này không còn quan tâm đến tiền bạc, quyền lực, gia đình, xã hội. Họ chỉ quan tâm đến sự thật và chân lý.
- Chỉ ngồi thiền, không tụng niệm, đọc kinh, cầu chú, khấn vai gì nữa. Chỉ khi họ tĩnh lặng hoàn toàn trong thiền định, họ mới trải nghiệm được chân lý.
- Linh hồn không làm bất cứ 1 việc gì khác, ngoài thiền định. Họ sống đời sống tâm linh, thực hành thiền định.
- Trong giai đoạn này, lại có 3 giai đoạn nhỏ:
Giai đoạn 5.2.1: các soul quan tâm đến những thứ bên ngoài, các mối quan hệ
Giai đoạn 5.2.2: họ từ bỏ hết tất cả mọi thứ, gia đình, công việc, mối quan hệ xã hội, lên núi, vào rừng để thực hành thiền định, … và lúc này, cũng là lúc họ đạt được sự chứng ngộ, nhưng sự khai sáng chưa thật sự hoàn toàn, họ phải trải qua 1 vài lần tái kiếp nữa, để đi vào.
Giai đoạn 5.2.3: thực hành tâm linh trong cuộc sống đời thường, kết hợp hài hòa giữa tâm linh & vật chất, mới đạt được sự khai sáng thật sự. Đây được gọi là con đường trung đạo vàng.
Việc từ bỏ mọi thứ, lên núi đi tu, là 1 việc rất dễ dàng.
Trải nghiệm việc thực hành tâm linh trong đời sống thực tế, mới là thách thức cho linh hồn đó.
Ví dụ: người vợ thực hành thiền, chồng không thiền, nên nói người vợ bị điên, không lo đi làm kiếm tiền nuôi con, chỉ biết suốt ngày ngồi thiền, thì lúc đó, mới là thách thức thật sự cho người vợ, trong việc cân bằng giữa thực hành tâm linh, và đời sống gia đình, điều tiết giữa vai trò chăm sóc con cái & chăm sóc linh hồn.
6/ Giai đoạn 6 - Linh hồn khai sáng (Diviners soul)
Giai đoạn này, đối với họ, cuộc sống như là 1 lễ hội, họ đã vượt qua mọi đau khổ, buông bỏ mọi dính mắc cảm xúc, tâm trí, tình cảm...
Đặc điểm:
- Chỉ sống trong sự thật và chân lý.
- Không giết hại, không bạo lực
- Chỉ làm 1 công việc, đó là chia sẻ khoa học thiền định, chia sẻ chân lý, chia sẻ sự thật.
- Đi con đường trung đạo.
- Có sự hợp nhất với thượng đế.
Họ đạt được học vị để chỉ trạng thái phát triển của tâm thức, chỉ về sự nhận thức, trí tuệ, sự thông thái, có cái nhìn toàn thể về bức tranh của vũ trụ, sự khai sáng, chứng ngộ.
Chưa từng có thời điểm nào mà trên Trái đất có rất nhiều linh hồn khai sáng được tái sinh như hiện nay. Trên trái đất đã có hàng trăm, hàng ngàn người đã đạt được sự ‘chứng ngộ’. Đây là kỷ nguyên vàng của trái đất để bước vào 1 giai đoạn mới.
Những người đạt ‘học vị’ trông họ rất bình thường, sống cuộc đời bình thường.
Những người đem tiền, của cải , vật chất rất nhiều đi cho từ thiện, cho xã hội, không phải nằm trong số đó.
Những nhà chữa lành, những người thể hiện mình có những quyền năng đặc biệt, thần thông, thì cũng chưa đạt được sự khai sáng để nhận học vị.
Học vị về mức độ phát triển tâm thức, không phải nói về thói quen, hành vi cho từ thiện, hay quyền năng, khả năng thần thông nào đó.
Và muốn khai sáng, các linh hồn già sẽ phải đi từ:
1. Tìm kiếm sự thật
2. Trải nghiệm sự thật, chân lý
3. Chia sẻ sự thật, chân lý.
Muốn tốt nghiệp trường học trái đất, để đi đến chiều kích cao hơn (Ascension), thì soul đó phải chia sẻ khoa học tâm linh, chưa chia sẻ, sẽ không bao giờ tốt nghiệp được.
Và bất kỳ ai, cũng có thể đạt được học vị, nó tùy vào lực chọn – tự do ý chí của mỗi người đó, có thể mất 10 – 30 kiếp, trung bình 400 – 500 kiếp, hoặc 1000 – 2000 kiếp, rồi thì ai cũng sẽ tốt nghiệp cả.
Mức độ tiến hóa của linh hồn, sẽ dựa trên:
1. Số lượng kiếp sống đã trải qua
2. Số lượng bài học đã tốt nghiệp (done)
Và trái đất này là 1 trường học, được vận hành bởi quy luật nhân quả, nên đã tạo ra 1 sân chơi rất công bằng, nghiêm khắc :
- Bạn xuống trái đất, bạn tạo Bad Karma (nghiệp xấu)
- Bạn trả nợ cho các Bad Karma đã tạo ra
- Bạn học bài học của chính mình
- Bạn trở nên khai sáng
- Bạn trở về cuội nguồn (Ascension)

Sunday, September 13, 2020

Đại thỉnh nguyện


Từ nguồn Ánh Sáng trong Tâm Trí của Thượng Đế
Hãy để ánh sáng tràn vào tâm trí con người.
Hãy để Ánh Sáng giáng xuống Trần Gian.

Từ nguồn Tình Yêu trong Trái Tim của Thượng Đế
Hãy để tình yêu tràn vào trái tim con người.
Cầu cho đấng Christ trở lại Trần Gian.

Từ trung tâm nơi Ý Chí Thượng Đế được biết đến
Hãy để thiên ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của con người –
Thiên ý mà các Chân Sư đều biết và phụng sự.

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là loài người.
Hãy để kế hoạch của Tình Yêu và Ánh Sáng được thực thi.
Hãy để thiên ý niêm phong cánh cửa nơi cái ác trú ngụ.

Cầu xin Ánh Sáng và Tình Yêu và Sức Mạnh khôi phục Thiên Ý trên Trái Đất.

Monday, September 7, 2020

Ký ức và sự tiên đoán

Ký ức và sự tiên đoán là những trải nghiệm của các sinh linh có được trong sự tồn tại của mình. Dưới một hình tướng và một tâm thức nào đó có được ngã thức - chính là ý thức, sự nhận thức về Bản Ngã và Phi Ngã mà sinh linh có được những trải nghiệm, ý niệm, tư tưởng của riêng mình. Những ý niệm, tư tưởng này từ các đối tượng trong thực tại biến thành các hình tư tưởng và sau đó sẽ trở thành các ký ảnh tồn tại trong tâm thức Vũ Trụ. Các ký ảnh này, nếu trong quá khứ sẽ là ký ức, nếu trong tương lai sẽ là tiên đoán.

Tư tưởng sinh ra các hình tư tưởng, vốn có được từ sự mô phỏng các đối tượng trong các thực tại hoặc được hình thành khi có sự hình thành mối quan hệ giữa Chủ Thể Biết, Cái Được Biết và Sự Biết. Sự Biết ở đây chính là hình thức trừu tượng của một Mối Quan Hệ thường giữa dục vọng, xúc cảm với tri thức. Ví dụ: mẹ - với xúc cảm ấm áp, thương yêu; kẻ thù - với xúc cảm lo lắng, sợ hãi. Các năng lực - huyền năng liên quan đến Minh Triết của Sự Sống như sáng tạo, hình dung, tư duy, suy luận, suy đoán, mô phỏng ... sẽ tạo ra các mối quan hệ này. Khi các quan hệ này được hình thành, các thực tại, đối tượng là hình tư tưởng cũng sẽ hình thành và tồn tại đến khi nào Chủ Thể Biết còn duy trì ý niệm về chúng. Khi Chủ Thể Biết không còn duy trì ý niệm và lãng quên chúng thì những tư tưởng, hình tư tưởng này cũng vì thế mà trở thành những ký ảnh trong tâm thức Vũ Trụ hay ký ức đối với Chủ Thể Biết.

Các tư tưởng được hình thành dựa trên hoặc là Ý Chí, Minh Triết hoặc dựa trên Xúc Cảm, Dục Vọng. Dưới sự kiểm soát, điều khiển của chúng mà các tư tưởng này có thể chuyển hóa thành hành động hay không. Nếu các tư tưởng đó của Chủ Thể Biết không phải do Dục Vọng, Xúc Cảm chi phối, thúc đẩy mà có mà do Ý Chí, Minh Triết thì Sự Biết lúc này là mối quan hệ gắn liền với tâm thức - Bản Ngã bên trong thay vì các đối tượng bên ngoài ở Phi Ngã.

Các hình tư tưởng (ký ức) này chứa đựng năng lượng sự sống ở các tần số rung động khác nhau. Có tần số rung động cao, có tần số rung động thấp. Đối với các hình tư tưởng có tần số rung động cao, nếu được hồi tưởng nhiều lần bởi Chủ Thể Biết sẽ giúp tần số rung động tổng của Chủ Thể Biết tăng lên. Tương tự, đối với các hình tư tưởng có tần số rung động thấp, sẽ khiến tần số rung động của Chủ Thể Biết giảm đi. Do đó, với những ký ức được hình thành từ sự lo lắng, kinh hãi, đau buồn, bi quan, tự ti ... sẽ khiến cho Chủ Thể Biết bị thất thoát năng lượng sống. Khi một sinh linh thường xuyên sống trong những ký ức này, sinh mệnh của sinh linh đó cũng sẽ bị đe dọa. 

Khi các sinh linh có các ký ức này trong sự tồn tại của mình, sinh linh đó sẽ sử dụng nó kết hợp với những đối tượng, thực tại trong một tương lai để đưa ra những ý niệm, tư tưởng về những gì sẽ diễn ra. Những ý niệm, tư tưởng này cũng sẽ hình thành các hình tư tưởng của riêng nó, được gọi là các tiên đoán. Ký ức càng nhiều ứng với sự trải nghiệm càng nhiều và do đó sự tiên đoán càng chính xác. 

Các sinh linh tồn tại trong vũ trụ, trên mỗi hành tinh, sẽ tạo ra vô vàn các ký ức như vậy cũng đồng nghĩa với việc giải phóng vào trong 7 cõi giới của mỗi hành tinh vô vàn các hình tư tưởng mang các mức năng lượng sống ở các tần số rung động khác nhau. Nếu trên cùng một hành tinh, số các hình tư tưởng mang năng lượng thấp quá lớn sẽ khiến cho tâm thức hành tinh đó không tiến hóa lên cao được. Đến một thời điểm nào đó, Hành Tinh Thượng Đế sẽ phải tiến hành thanh lọc tâm thức của mình. Sự thanh lọc này sẽ thu hồi/chuyển đi các linh hồn liên tục tạo ra các hình tư tưởng xấu đồng thời bổ sung/chuyển đến các linh hồn tạo ra các hình tư tưởng tốt để tiến hành cộng hưởng/chuyển hóa các hình tư tưởng xấu đã có trước đó. Thêm vào đó, các năng lượng xấu này, khi đạt đến một lượng/cường độ nhất định nào đó, sẽ không gì có thể ngăn cản nó hình thành nên các Sắc Tướng của chính nó - chúng thường là các thiên tai, nhân họa xảy ra cho tất cả sinh linh sống trên hành tinh đó. 

Mỗi sinh linh sống trên hành tinh, ngoại trừ có riêng nhân quả của chính mình thì đều chịu một phần nhân quả của chính hành tinh đó. Cũng có thể nói, đó chính là nhân quả của sinh linh đó với Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh mà thượng đế đó đang sống. Muốn giải thoát bản thân đạt đến tự do vô thượng, sinh linh đó ngoại trừ giải hết nhân quả của mình thì cũng cần giải hết nhân quả với Hành Tinh Thượng Đế, Thái Dương Thượng Đế và cả Vũ Trụ Thượng Đế.

Như vậy, hiểu được ký ức, tiên đoán là gì ? sự hình thành của chúng cũng như tác động của chúng đến mỗi sinh linh cũng như hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ mà sinh linh đó đang sống thì sinh linh đó sẽ phải quán chiếu nhiều hơn mỗi ý niệm, tư tưởng của chính mình. Cẩn thận vô cùng trong việc tiếp nhận / tạo ra các rung động tư tưởng cũng là tiền đề vô cùng quan trọng trên con đường giải thoát.

Giao tiếp giữa các tâm thức, hình thể - sự sống, sắc tướng trên các cõi giới khác nhau

Một sinh linh có tâm thức, hình thể và ngã thức trải trên các cõi giới khác nhau. Giữa các tâm thức, hình thể này có sự trao đổi, giao tiếp với nhau cũng như trên từng cõi giới, tâm thức, hình thể của mỗi sinh linh sẽ trao đổi, giao tiếp với tâm thức, hình thể của các sinh linh khác - là thực tại của tâm thức, hình thể của sinh linh ứng với cõi giới đó.

Để có thể trao đổi, giao tiếp thì luôn cần phương tiện. Ở các cõi giới khác nhau, phương tiện sẽ khác nhau. Trên mỗi cõi giới, phương tiện cũng phân ra vô vàn loại tùy theo khả năng, nhu cầu. Ví như ở cõi hồng trần, phương tiện trao đổi, giao tiếp là ngôn ngữ, chữ viết, ký hiệu hay nội dung số có được từ năng lượng điện từ trường. Ở cõi trung giới, thượng giới, phương tiện trao đổi, giao tiếp là những gì diễn ra trong tâm thức của sinh linh này và được truyền tải đến sinh linh khác. Đó là sự truyền đi của các ý niệm, hình tư tưởng. 

Bản chất của vật chất/năng lượng là thu hút, cộng hưởng hoặc đẩy nhau. Năng lượng sự sống tồn tại ở dạng vật chất hay tinh thần vì thế cũng có bản chất như vậy. Do đó, các thể của cùng một sinh linh trên các cõi giới khác nhau hay các thể của các sinh linh khác nhau trên cùng một cõi giới cũng vì thế sẽ thu hút / cộng hưởng / đẩy nhau. Đối với các thể của cùng một sinh linh, các vật chất cấu tạo nên các thể sẽ có sự thẩm thấu, trộn lẫn lẫn nhau. Không những thế, giữa các thể còn có các kênh liên lạc là các luân xa nơi diễn ra sự trao đổi tín tức được truyển tải bởi Ether ngoại dưới dạng các dòng năng lượng vào ra ở các luân xa. Đối với tâm thức, các tâm thức ở các cõi giới khác nhau của cùng một sinh linh sẽ trao đổi, giao tiếp với nhau thông qua tín tức được truyền tải bởi Ether nội dưới dạng các dòng năng lượng đi vào / ra trực tiếp đến tâm thức. Con đường truyền tín tức dùng Ether nội này không có khoảng cách, thời gian, không gian. Chỉ một ý niệm khởi sinh, tín tức từ ý niệm này sẽ đến / đi khỏi đối tượng của trao đổi, giao tiếp.

Bởi vì trên cơ bản, tâm thức riêng lẽ là một biểu lộ cụ thể nào đó tại một thực trạng nào đó của tâm thức vũ trụ vốn hiện diện khắp nơi. Do đó, hai tâm thức biểu lộ riêng lẽ, nếu cần giao tiếp thì có thể trao đổi trực tiếp thông qua tâm thức vũ trụ. Mỗi vụ trụ chính là được sáng tạo nên bởi các ý niệm/tư tưởng sáng tạo của Vũ Trụ Thượng Đế. Vật chất hóa Sắc Tướng cũng chính là biểu lộ của các ý niệm/tư tưởng sáng tạo đó. Nếu các ý niệm/tư tưởng này diệt thì Sắc Tướng Vũ Trụ cũng sẽ diệt. Do đó, Vũ Trụ cũng có chu kỳ sinh/thành/hoại/diệt như vạn vật chúng sinh tồn tại trong chính Vũ Trụ đó. Sắc Tướng Vũ Trụ suy cho cùng chính là các hiển lộ của Sự Sống. Chính Sắc Tướng tạo ra khoảng cách, không gian, thời gian, sắc thái, ... mà bản thân Sự Sống thì lại là Duy Nhất, Vô Hiện nên thời gian, không gian cũng chỉ tồn tại ở Sắc Tướng mà thôi. Hay nói cách khác, sự giao tiếp, trao đổi giữa các thể vốn là Sắc Tướng sẽ có can dự của không gian, thời gian mà giữa các tâm thức vốn là diễn sinh của Sự Sống thì sẽ không có.

Quá trình trao đổi, giao tiếp giữa các thể của cùng một sinh linh đến một cấp độ nào đó sẽ dẫn đến sự hợp nhất một phần hay toàn bộ các thể với nhau, cũng chính là hợp nhất một phần hoặc các luân xa với nhau kéo theo sự mở rộng của ngã thức. Khi ngã thức mở rộng, sinh linh đó sẽ có ý thức trên tất cả các cõi giới. Bộ não lúc đó của sinh linh có thể tiếp nhận được rung động của thực tại hồng trần cũng như thực tại trên các cõi giới khác. Ngã thức mở rộng, kéo theo sự mở rộng và hợp nhất từng phần hay toàn phần của các tâm thức trên các cõi giới khác nhau của chính sinh linh đó. Quá trình này cũng có thể diễn ra theo chiều ngược lại. Sự trao đổi, giao tiếp giữa các tâm thức trên các cõi khác nhau của sinh linh sẽ kéo theo sự mở rộng, hợp nhất tâm thức từng phần hay toàn phần của sinh đó từ đó kéo theo sự hợp nhất của các thể. Đây là một quá trình diễn ra vừa theo chiều dọc vừa theo chiều ngang. 

Để quá trình trao đổi, giao tiếp giữa các thể, tâm thức diễn ra liên tục, thông suốt thì cần rèn luyện cũng như sử dụng thêm các phương tiện. Rèn luyện tốt nhất là thiền định, tu thân, tu tâm. Phương tiện tốt nhất là khẩn cầu sự giúp đỡ từ chính Chân Thần / Linh Hồn của sinh linh đó và sự giúp đỡ từ các bậc chân sư.

Như vậy, việc hiểu rõ sự trao đổi, giao tiếp giữa các thể / tâm thức của cùng sinh linh hay giữa các sinh linh với nhau trên các cõi giới khác nhau sẽ giúp sinh linh đạt được quá trình hợp nhất ngày càng nhiều hơn các thể / tâm thức này lại với nhau. Đây là nền tảng cơ bản quan trọng trên con đường tiến hóa để một ngày có thể hợp nhất với Đấng Duy Nhất - vốn là mục đích của hành trình của tất cả sinh linh.

Sự biểu lộ của năng lượng sự sống ở cõi hồng trần

Biểu lộ cao nhất của Đấng Duy Nhất là Sự Sống Tam Ngôi (Thượng Đế ba ngôi), là năng lượng sự sống biểu lộ ba trạng thái Ý Chí, Minh Triết, Hành Động. Khi đi xuống các cõi phía dưới, biểu lộ của năng lượng sự sống sẽ có hình thức khác nhau. Ở cõi hồng trần, biểu lộ này cũng không ngoại lệ do đó ở đây cần nghiên cứu những biểu lộ này cũng như cơ chế, cách thức thay đổi, cải tiến các biểu lộ phục vụ cho quá trình tiến hóa của sinh linh.

Ở cõi trần, trong mỗi tế bào cấu tạo nên cơ thể vật lý, đều chứa đựng năng lượng sự sống với các hình thức biểu lộ là năng lượng dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. Các năng lượng này sẽ được trao đổi thông qua thể dĩ thái (Ether), đi qua các vòng xoáy ốc của các nguyên tử cấu thành nên các tế bào. Các biểu lộ của năng lượng sự sống sẽ khác nhau tùy theo tần số rung động tổng hòa của tâm thức hồng trần, ngã thức và các hệ thống cùng với thể vật lý hình thành nên sinh linh. 

Sự biểu lộ của Ý Chí, Minh Triết ở cõi hồng trần chính là Xúc Cảm. Nếu Xúc Cảm là những đức tính thì ứng với năng lượng sự sống của sinh linh đó có tần số rung động cao, thanh nhẹ, ít chất trọng trược. Nếu Xúc Cảm là các điều xấu thì ứng với năng lượng sự sống của sinh linh đó có tần số rung động thấp, nhiều chất trọng trược. Hành động là một dạng biểu lộ trạng thái Hành Động của năng lượng sự sống, nếu hành động được kiểm soát, điều khiển bởi Ý Chí, Trí Tuệ thì hành động đó thường sẽ đúng đắn, mang lại nhiều lợi ích cho sự tiến hóa của sinh linh đó. Và ngược lại, nếu hành động sai trái, sẽ cản trở con đường tiến hóa.

Mức độ phát triển của tâm thức càng cao cho thấy sẽ ứng với sự phát triển càng cao của các thể thuộc phàm ngã của sinh linh. Luôn cần có một sự cân bằng về mối quan hệ Sự Sống - Sắc Tướng. Sắc Tướng sẽ chứa đựng Sự Sống tương ứng với nó bởi vì Sắc Tướng vốn là biểu lộ của Sự Sống. Cho dù Sắc Tướng có được tạo thành bởi năng lượng của Sự Sống đó hay được tạo thành bởi một năng lượng của một Sự Sống khác thì về cơ bản, vẫn phải đảm bảo được cân bằng trên. Do đó, thường những Sắc Tướng có hình thái nhẹ nhàng, thanh thoát, tươi tắn, xinh đẹp ... thì ứng với năng lượng Sự Sống cao và ngược lại. Có thể căn cứ vào sự biểu lộ của Sắc Tướng này để dự đoán phần nào mức độ phát triển và năng lượng Sự Sống mà Sắc Tướng đó chứa đựng.

Thông qua việc nâng cao tâm thức, ngã thức cõi hồng trần thông qua việc rèn luyện công cụ biểu lộ của tâm thức là bộ não ở cõi hồng trần sẽ góp phần vào việc giúp bộ não đáp ứng tốt hơn với các rung động cao đến từ Phi Ngã hay chính từ Bản Ngã cũng như Tâm thức Hành Tinh, Tâm thức Thái Dương Hệ và Tâm thức Vũ Trụ. Khi tâm thức được nâng cao tức năng lượng Sự Sống được tăng trưởng thì khi đó Sắc Tướng biểu lộ Sự Sống đó cũng vì thế biến đổi, thay các chất trọng trược bằng các chất thanh nhẹ, khiến Sắc Tướng trở nên tươi đẹp, bền bỉ hơn. Bên cạnh đó, việc rèn luyện Sắc Tướng cũng sẽ đóng góp một phần trong việc nâng cao tổng thể năng lượng sự sống của sinh linh dựa trên nền tảng mối quan hệ cân bằng giữa Sắc Tướng và Sự Sống.

Như vậy, nếu hiểu rõ sự biểu lộ của năng lượng sự sống ở cõi hồng trần và mối quan hệ cũng như cách thức cải biến nó sẽ giúp chúng ta đưa ra những lựa chọn sống đúng đắn hơn để nâng cao sự phát triển tâm thức, sức khỏe của mình. Bên cạnh đó, giúp đỡ gia đình, những người/chúng sinh khác để họ cũng có bước phát triển trên con đường tiến hóa của riêng họ. Và cũng dựa vào sự hiểu biết này, có thể giúp ta phỏng đoán được sự phát triển tâm thức của một người/chúng sinh nào đó để có sự đề phòng hoặc giúp đỡ họ phù hợp.