| Khi yêu một người nghĩa là bạn đã cho người đó quyền năng làm bạn đau khổ hay hạnh phúc. Mình quen nhau lần đầu tiên là khi em có ấn tượng sâu sắc như vậy với một comment trên một blog nổi tiếng. Lần đầu tiên ấy là vào một ngày tháng 10 cách đây 2 năm. Em chỉ nhớ comment ấy nói về gió, nó thật mạnh mẽ và phóng khoáng. Bắt đầu từ đó, không biết bao nhiêu đêm em đã nói chuyện với anh vì anh ở... một đất nước khác. Và phải chăng vì đất nước ấy có tuyết nên anh cần một người để sưởi ấm trái tim anh, trái tim của một chàng trai có những tháng năm cuộc sống không hề dễ dàng. Mình đã nói chuyện như thế bao lâu nhỉ? Có lẽ đấy là câu chuyện "Nghìn lẻ một đêm" và nó kéo dài tưởng như bất tận. Lần đầu tiên, em tìm thấy một người hiểu em nhiều đến vậy và nhạy cảm đến thế. Lần đầu tiên, em nhìn thấy mình trong một người khác và thấy ấm áp khi có thể chia sẻ suy nghĩ của mình. Đối với anh, em có thật nhiều lần đầu tiên, nhiều đến nỗi em có thể kể tiếp câu chuyện của nàng Sê-hê-ra-zat xinh đẹp nữa. Em đã nghĩ và vẫn nghĩ rằng em tìm thấy tri âm của mình, và chưa giây phút nào em nghĩ mình sẽ yêu nhau, cho đến một ngày... Một ngày mùa xuân năm nay, em nhận được tin nhắn người quen của anh, nói anh gửi cho em một món quà và muốn em ra nhận. Anh đâu biết em đã hồi hộp thế nào khi nghe điều ấy và không biết từ bao giờ em mong chờ tin anh đến vậy. Ngày hẹn đến, em nhận một món quà, là... anh. Em không rõ lúc ấy trông em ngốc đến thế nào nhưng em biết rõ em không tin vào mắt mình, không thể thở được khi nhìn thấy anh - người em dành trọn tình yêu. Bắt đầu từ khi ấy chăng... hay còn sớm hơn nữa, niềm hạnh phúc đến với em nhanh đến mức nghẹt thở. Em hạnh phúc với những yêu thương anh dành cho em, những cái nắm tay mỗi khi qua phố, những nụ hôn nồng nàn, những cái ôm xiết bất ngờ khi anh lặng im không nói. Mỗi giây với anh là mỗi giây em trân trọng và nâng niu. Ở bên anh, em thấy mình nhỏ bé và cũng lớn lao. Ở bên anh, em thấy mình được chở che và che chở. Ở bên anh, em biết yêu thương con người hơn, yêu cuộc sống hơn. Anh không phải hoàng tử bạch mã mà con gái hay mơ, em cũng chưa bao giờ cần một hoàng tử như thế. Tất cả những gì em cần là anh, chỉ anh thôi. Vì anh có thể ngồi nghe em nói hàng giờ đồng hồ. Vì anh có thể nói cho em hiểu những suy nghĩ của chính em với một sự chính xác không ngờ. Vì có khi sáng sớm anh đánh thức em dậy chỉ với mỗi mục đích là nhắc em đừng đi làm muộn. Vì đôi khi anh dở hơi hết chỗ nói, khi ở bên đất nước ấy mà rủ em đi dạo, đi café. Vì anh nhắn em online chỉ để cho em cả mây, gió, nắng và những trò nghịch ngợm. Vì anh nói với em rằng: "Khi cho một người ăn xin bánh thì hãy bẻ một miếng nhỏ cho mình, đưa cho họ phần lớn và cùng ngồi ăn với họ". Vì em thích cách anh nghe nhạc cùng em, hai đứa đeo tai nghe, và anh để tiếng nhạc qua phone đến với em. Vì anh nhắc em mặc đủ ấm khi trời lạnh. Vì anh đan tay vào tay em ở bất cứ nơi nào chúng ta đến. Vì cách anh càu nhàu trời mưa mỗi khi mình gặp nhau. Vì sở thích kỳ cục của anh với ớt. Vì em thích cảm giác ở bên anh, khi anh mệt mỏi ôm lấy em. Vì anh nói em có vị mồ hôi giống như mẹ anh. Vì anh nói ở bên em anh thấy cuộc sống không chỉ đáng sống mà còn rất tuyệt vời, vì anh bình yên khi bên em. Vì hơn cả nàng Sê-hê-ra-zat, em có thể kể mãi không dứt vì sao em yêu anh. Lần đầu tiên cho đến lúc này, một con bé tự do như em muốn lập gia đình, và người em muốn trao cuộc đời chính là anh. Lần đầu tiên, con bé ghét nấu ăn như em, muốn học nấu ăn để làm một người vợ, người mẹ tốt. Bao nhiêu lần anh nhỉ, bao nhiêu lần mình nói đến ngôi nhà trong mơ và những đứa trẻ? Bao nhiêu lần anh nắm tay em đi dạo trên con phố và ước có thể đi mãi như vậy? Bao nhiêu lần tay anh tìm tay em trong những cơn mưa tầm tã? Bao nhiêu lần? Em không đếm được và cũng không muốn đếm. Anh chưa bao giờ biết, em cũng như những cô gái khác, muốn người yêu chiều chuộng mình, nhưng em không đành lòng khi thấy anh vất vả. Em không hay đòi hỏi và cũng không thích đòi hỏi. Bởi vì, hơn cả những món quà, anh luôn quan tâm đến cuộc sống của em, luôn chia sẻ với em. Và em hạnh phúc vì điều đó. Và không biết từ bao giờ, em đã cho anh quyền năng làm em hạnh phúc và đau khổ. Bởi một ngày, em biết trái tim anh còn có người con gái khác. Em không muốn tin cũng phải tin, em không chấp nhận không được. Và người đó không ai khác, là người yêu cũ của anh. Em đau lòng, mất hồn và thấy tâm hồn mình bị đày dưới địa ngục. Em vẫn cười, vẫn nói với bạn bè, đồng nghiệp nhưng khi đêm xuống chỉ có em, bóng đêm và nước mắt. Anh chấp nhận chia tay, và chấp nhận mọi điều như thể anh đã trót theo thì giờ phải theo tiếp. Anh ra đi, đi khỏi cuộc đời em. Ngày gặp anh lần cuối, em không khóc được, nước mắt nuốt ngược và nỗi đau lặn vào trong. Em không nhận ra em nữa, cuộc sống trở nên nhàm chán và đầy những khổ đau. Vì đâu đâu, em cũng thấy bóng hình anh, mỗi con phố, mỗi sự việc đều khiến em nghĩ đến anh. Nhiều người đến với em, nhưng em không sao quên được anh. Em không muốn, nói đúng hơn là chưa muốn quên. Em để kỷ niệm chảy tràn trong lòng để lấp đầy khoàng trống trái tim em hiện tại. Không có anh, em không quen nghe nhạc mỗi đêm nữa. Không có anh, em cũng bỏ dần thói quen chờ những tin nhắn yêu thương và nghịch ngợm. Không có anh, em tự học cách vượt qua nỗi đau, để đi tiếp như anh từng nói. Không có anh, em bỗng nhiên thích đi café một mình, luôn luôn em chọn cocktail - đồ uống cả anh và em đều thích. Và giờ, em biết anh không còn bên em nữa. "Đừng yêu anh quá nhiều. Anh chỉ sợ làm em đau khổ và thất vọng. Anh chỉ là một cơn gió thôi, anh yêu tự do. Nếu một ngày anh lại vì tự do mà đi, em sẽ buồn đấy". Anh từng nói thế, và em đã không làm được như anh nói. Em yêu anh nhiều đến mức em cũng ngạc nhiên. Vì bây giờ nếu anh hỏi em vì sao em yêu anh. Em sẽ chỉ nói rằng vì anh là tất cả những gì hòa hợp và trái ngược với em cả về thể xác lẫn tâm hồn. Bởi vì em luôn biết em yêu anh vì những gì anh có, bởi vì em yêu gió. Vì dù bản thân em cũng là một cơn gió, nhưng em sẵn sàng đổi tự do của mình để cả đời yêu anh! P/s: Em yêu anh bởi vì anh là người duy nhất khiến em biến mất và tồn tại mãi mãi trong vũ trụ này! | |
| www.SAGA.vn - mybeck | Theo Ngôi Sao |
Thursday, December 30, 2010
Để gió bay đi
7 triết lý sống đúng nhất
| 1. Không mày đố thầy dạy ai. 2. Con đường tới vinh quang không có dấu chân của kẻ lười biếng vì kẻ lười biếng thì làm quái gì chịu đi bộ mà có dấu chân. 3. Học là để hiểu Không hiểu thì phải hỏi Đã hỏi thì phải hiểu Không hiểu thì ... đừng hỏi! 4. Một điểm cũng là thầy nửa điểm cũng là thầy!! 5. Thuận vợ thuận chồng , con đông mệt quá!! 6. Người ta dùng thời gian để kiếm tiền ......rồi lại dùng tiền để đốt thời gian. 7. Tiền không thành vấn đề , nhưng vấn đề là không có tiền!!! |
Phụ nữ thật sự muốn gì ?
Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, có một ngôi làng của bộ tộc Adam sống trong một thung lũng. Tất cả mọi người trong bộ tộc đều lấy tên của bộ tộc để đặt trước tên của mình như một sự tôn vinh, Adam1, Adam2, và cứ thế tăng dần lên...
Một ngày nọ, tù trưởng của làng, Adam1, bỗng nẩy ra ý định mình sẽ làm một chuyến phiêu lưu. Anh ta đem theo tất cả những thứ cần thiết, trao quyền tù trưởng cho người bạn thân nhất của mình là Adam2 rồi lên đường.
Chuyến phiêu lưu nào cũng đến lúc kết thúc, và Adam1 giờ đây đang trên con đường trở về ngôi làng yêu quí của mình. Gần về đến làng, Adam1 chỉ còn phải đi qua một con đường nhỏ xuyên qua núi.
Bỗng nhiên, một con quái vật khủng khiếp nhảy ra ngay trước mặt anh, nói với Adam1 rằng nó sẽ giết chết anh nếu không trả lời được câu đố của nó.
Nó nói rằng đây là một câu đố vô cùng khó, hàng trăm hàng ngàn năm nay, những bộ óc siêu việt nhất của loài người cũng không tài nào có câu trả lời đúng, vì thế nó sẽ cho Adam1 thời gian một năm để tìm ra câu trả lời. Quá thời hạn đó nó sẽ tìm đến để giết chết Adam1 (đương nhiên là nó sẽ làm được - quái vật mà) và tiện thể tiêu diệt luôn cả làng của anh ta.
Và câu hỏi đó là: “Phụ nữ thật sự muốn gì?”.
Đây quả là một câu hỏi quá sức khó đối với Adam1, nhưng không còn cách nào khác, anh đành chấp thuận.
Trở về, Adam1 hỏi tất cả mọi người trong làng, nhưng không ai đưa ra được câu trả lời hoàn hảo. Adam1 cũng mời tất cả các nhà thông thái của bộ tộc Adam đến để hỏi, các nhà thông thái tranh cãi với nhau rất lâu, rất lâu mà vẫn không tìm ra được câu trả lời. Cuối cùng họ khuyên Adam1 nên đến hỏi mụ phù thuỷ già sống gần đó, tuy nhiên cái giá phải trả cho mụ thường là rất đắt...
Những ngày cuối cùng của thời hạn một năm cũng đã tới gần. Adam1 không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Cô ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là cô ta muốn lấy Adam2, vị tù trưởng rất đẹp trai, phong độ và mạnh mẽ của bộ tộc Adam, bạn thân nhất của Adam1.
Adam1 thất kinh và nghĩ, nhìn mụ phù thuỷ mà xem, mụ vừa cực kì xấu xí lại vô cùng độc ác. Adam1 chưa từng bao giờ thấy một ai đáng sợ như mụ ta. Không, Adam1 sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi đến như vậy. Adam1 cố thuyết phục mụ ta nhưng không, mụ không chấp nhận ai khác ngoài Adam2.
Khi biết chuyện, Adam2 đã nói với Adam1 rằng sự hi sinh đó của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của Adam1 và sự tồn tại của ngôi làng yêu quý. Và Adam2 quyết định hy sinh.
Cuộc hôn nhân được chấp thuận và Adam1 cũng nhận được câu trả lời. Điều phụ nữ thật sự muốn đó là: “Có thể tự quyết định lấy cuộc sống của mình“.
Ngay lập tức tất cả mọi người đều nhận ra rằng mụ ta vừa thốt ra một chân lý. Adam1 của họ nhất định sẽ được cứu. Quả thật con quái vật khủng khiếp nọ đã rất hài lòng với câu trả lời và giải thoát cho Adam1 khỏi cái án tử hình kia.
Sau đó tất nhiên là đám cưới của mụ phù thủy và Adam2. Tưởng chừng như không có gì có thể khiến Adam1 hối hận và đau khổ hơn nữa vì đã để cho bạn mình phải hy sinh như vậy. Tuy nhiên chàng tù trưởng Adam2 của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự..
Đêm tân hôn, Adam2 thu hết can đảm bước vào động phòng. Nhưng, gì thế này? Trong phòng không phải là mụ phù thủy già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ.
Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng, mụ phù thuỷ từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với cô lúc cô là phù thuỷ nên để thưởng cho chàng, cô sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ mến đối với chàng trong một nửa thời gian của ngày. Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh của nàng vào ban ngày và ban đêm.
Chao ôi sao mà khó thế? Adam2 bắt đầu cân nhắc:
Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể vênh mặt, ưỡn ngực tự hào cùng nàng đi khắp nơi cùng anh em, nhưng ban đêm làm sao mà chịu cho nổi?
Hay là ngược lại nhỉ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, còn khi màn đêm buông xuống ta sẽ tận hưởng thiên đường cùng nàng công chúa kiều diễm kia?
Adam2 đã nghĩ ra câu trả lời cho mình, trước khi nhìn xuống dưới, nếu bạn là 1 Adam, bạn cũng nên có câu trả lời, ai mà biết được liệu bạn có rơi vào tình huống này hay không?
...
Adam2 đã bảo mụ phù thuỷ hãy "tự quyết định lấy số phận của mình". Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô nàng xinh đẹp kia hài lòng và nàng ta nói rằng nàng ta sẽ hóa thân thành một cô nương xinh đẹp suốt đời. Đó là phần thưởng cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.
Vậy bài học rút ra từ câu chuyện này là gì? Như Adam2 sau này vẫn nói đi nói lại với con cháu... Vợ bạn đẹp hay xấu điều đó không quan trọng, vì từ sâu bên trong cô ta vẫn là một mụ phù thuỷ.
St
Một ngày nọ, tù trưởng của làng, Adam1, bỗng nẩy ra ý định mình sẽ làm một chuyến phiêu lưu. Anh ta đem theo tất cả những thứ cần thiết, trao quyền tù trưởng cho người bạn thân nhất của mình là Adam2 rồi lên đường.
Chuyến phiêu lưu nào cũng đến lúc kết thúc, và Adam1 giờ đây đang trên con đường trở về ngôi làng yêu quí của mình. Gần về đến làng, Adam1 chỉ còn phải đi qua một con đường nhỏ xuyên qua núi.
Bỗng nhiên, một con quái vật khủng khiếp nhảy ra ngay trước mặt anh, nói với Adam1 rằng nó sẽ giết chết anh nếu không trả lời được câu đố của nó.
Nó nói rằng đây là một câu đố vô cùng khó, hàng trăm hàng ngàn năm nay, những bộ óc siêu việt nhất của loài người cũng không tài nào có câu trả lời đúng, vì thế nó sẽ cho Adam1 thời gian một năm để tìm ra câu trả lời. Quá thời hạn đó nó sẽ tìm đến để giết chết Adam1 (đương nhiên là nó sẽ làm được - quái vật mà) và tiện thể tiêu diệt luôn cả làng của anh ta.
Và câu hỏi đó là: “Phụ nữ thật sự muốn gì?”.
Đây quả là một câu hỏi quá sức khó đối với Adam1, nhưng không còn cách nào khác, anh đành chấp thuận.
Trở về, Adam1 hỏi tất cả mọi người trong làng, nhưng không ai đưa ra được câu trả lời hoàn hảo. Adam1 cũng mời tất cả các nhà thông thái của bộ tộc Adam đến để hỏi, các nhà thông thái tranh cãi với nhau rất lâu, rất lâu mà vẫn không tìm ra được câu trả lời. Cuối cùng họ khuyên Adam1 nên đến hỏi mụ phù thuỷ già sống gần đó, tuy nhiên cái giá phải trả cho mụ thường là rất đắt...
Những ngày cuối cùng của thời hạn một năm cũng đã tới gần. Adam1 không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Cô ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là cô ta muốn lấy Adam2, vị tù trưởng rất đẹp trai, phong độ và mạnh mẽ của bộ tộc Adam, bạn thân nhất của Adam1.
Adam1 thất kinh và nghĩ, nhìn mụ phù thuỷ mà xem, mụ vừa cực kì xấu xí lại vô cùng độc ác. Adam1 chưa từng bao giờ thấy một ai đáng sợ như mụ ta. Không, Adam1 sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi đến như vậy. Adam1 cố thuyết phục mụ ta nhưng không, mụ không chấp nhận ai khác ngoài Adam2.
Khi biết chuyện, Adam2 đã nói với Adam1 rằng sự hi sinh đó của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của Adam1 và sự tồn tại của ngôi làng yêu quý. Và Adam2 quyết định hy sinh.
Cuộc hôn nhân được chấp thuận và Adam1 cũng nhận được câu trả lời. Điều phụ nữ thật sự muốn đó là: “Có thể tự quyết định lấy cuộc sống của mình“.
Ngay lập tức tất cả mọi người đều nhận ra rằng mụ ta vừa thốt ra một chân lý. Adam1 của họ nhất định sẽ được cứu. Quả thật con quái vật khủng khiếp nọ đã rất hài lòng với câu trả lời và giải thoát cho Adam1 khỏi cái án tử hình kia.
Sau đó tất nhiên là đám cưới của mụ phù thủy và Adam2. Tưởng chừng như không có gì có thể khiến Adam1 hối hận và đau khổ hơn nữa vì đã để cho bạn mình phải hy sinh như vậy. Tuy nhiên chàng tù trưởng Adam2 của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự..
Đêm tân hôn, Adam2 thu hết can đảm bước vào động phòng. Nhưng, gì thế này? Trong phòng không phải là mụ phù thủy già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ.
Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng, mụ phù thuỷ từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với cô lúc cô là phù thuỷ nên để thưởng cho chàng, cô sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ mến đối với chàng trong một nửa thời gian của ngày. Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh của nàng vào ban ngày và ban đêm.
Chao ôi sao mà khó thế? Adam2 bắt đầu cân nhắc:
Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể vênh mặt, ưỡn ngực tự hào cùng nàng đi khắp nơi cùng anh em, nhưng ban đêm làm sao mà chịu cho nổi?
Hay là ngược lại nhỉ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, còn khi màn đêm buông xuống ta sẽ tận hưởng thiên đường cùng nàng công chúa kiều diễm kia?
Adam2 đã nghĩ ra câu trả lời cho mình, trước khi nhìn xuống dưới, nếu bạn là 1 Adam, bạn cũng nên có câu trả lời, ai mà biết được liệu bạn có rơi vào tình huống này hay không?
...
Adam2 đã bảo mụ phù thuỷ hãy "tự quyết định lấy số phận của mình". Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô nàng xinh đẹp kia hài lòng và nàng ta nói rằng nàng ta sẽ hóa thân thành một cô nương xinh đẹp suốt đời. Đó là phần thưởng cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.
Vậy bài học rút ra từ câu chuyện này là gì? Như Adam2 sau này vẫn nói đi nói lại với con cháu... Vợ bạn đẹp hay xấu điều đó không quan trọng, vì từ sâu bên trong cô ta vẫn là một mụ phù thuỷ.
St
Những câu nói hài hước
|
| St |
Friday, December 24, 2010
Bài học về tình yêu thương
Câu chuyện có thật ở Nhật Bản.
---------------------------------
---------------------------------
Một người đàn ông muốn sửa ngôi nhà đã xây 10 năm của mình. Mà ở Nhật, người ta thường xây tường rỗng. Khi đâp tường ra người đàn ông rất ngạc nhiên khi thây một cây đinh đã đóng trúng chân 1 con Thạch Sùng khiến cho nó không đi lại được.
Người đàn ông kiểm tra thì thấy chiếc đinh được ông đóng cách đó 10 năm. Ông không hiểu tại sao trong 10 năm đó con Thạch Sùng không đi đâu cả mà vẫn sống, nó làm cách nào để kiếm thức ăn.? Ông ta quyết đinh núp vào 1 chỗ để xem con Thạch Sùng sẽ làm như thế nào. 1 lúc lâu sau ông thấy 1 con Thạch Sùng khác đang dùng miệng để đem thức ăn cho con đang bị đóng đinh.Thật quá bất ngờ người đàn ông tự hỏi ko biết con Thạch sùng kia là người yêu hay gia đình của con kia. Nhưng chỉ biết rằng con Thạch Sùng đã kiên trì suốt 10 năm trời.
Một câu chuyện đáng để chúng ta suy nghĩ.
Có lẽ, chúng ta thông minh và phát triển hơn con Thạch Sùng kia rất nhiều lần, nhưng lòng yêu thương ta giành cho người thân của mình có được như vậy không?!
Hãy yêu thương mọi người!
Người đàn ông kiểm tra thì thấy chiếc đinh được ông đóng cách đó 10 năm. Ông không hiểu tại sao trong 10 năm đó con Thạch Sùng không đi đâu cả mà vẫn sống, nó làm cách nào để kiếm thức ăn.? Ông ta quyết đinh núp vào 1 chỗ để xem con Thạch Sùng sẽ làm như thế nào. 1 lúc lâu sau ông thấy 1 con Thạch Sùng khác đang dùng miệng để đem thức ăn cho con đang bị đóng đinh.Thật quá bất ngờ người đàn ông tự hỏi ko biết con Thạch sùng kia là người yêu hay gia đình của con kia. Nhưng chỉ biết rằng con Thạch Sùng đã kiên trì suốt 10 năm trời.
Một câu chuyện đáng để chúng ta suy nghĩ.
Có lẽ, chúng ta thông minh và phát triển hơn con Thạch Sùng kia rất nhiều lần, nhưng lòng yêu thương ta giành cho người thân của mình có được như vậy không?!
Hãy yêu thương mọi người!
Nghiệp báo trong cuộc sống
3 – MỘT VÀI HỆ THỐNG GIẢI THÍCH NGHIỆP BÁO
Khi chúng ta bắt đầu nhìn vào những giải thích chính xác hơn trong Phật giáo, chúng ta khám phá một cách rất nhanh chóng rằng không phải chỉ có một giải thích. Một có người Tây phương thấy điều ấy hơi không thoải mái. Như nếu chúng ta có một rắc rối hay một hoàn cảnh, chúng ta có thể giải thích trong một vài cách khác nhau, tùy theo quan điểm của chúng ta. Ở phương Tây chúng ta làm như thế, chúng ta có thể giải thích những việc từ quan điểm xã hội, từ quan niệm tâm lý, từ khái niệm kinh tế - điều ấy không có gì ngạc nhiên. Những sự giải thích đa dạng giúp chúng ta thấu hiểu trong một cung cách đầy đủ những gì đang tiếp diễn. Và mỗi cách giải thích về những gì đang diễn ra căn cứ trên một hệ thống nào đấy của tư tưởng – hệ thống của tâm lý học, hệ thống của chính trị học, kinh tế học và v.v… Chúng ta có đôi điều tương tự ở đây trong Phật giáo, và vì thế chúng thấy rằng có vài giải thích từ những hệ thống giáo lý triết học khác nhau về vấn đề nghiệp báo hoạt động như thế nào. Chúng ta cũng có điều ấy ở phương Tây ngay cả trong một hệ thống, như tâm lý học – có thể có có một sự giải thích từ quan điểm của phái Freudian, và sự giải thích theo quan niệm của phái Jungian; một người có thể giải thích mọi việc theo lối xã hội chủ nghĩa, hay trong cung cách tư bản. Chúng ta thấy điều ấy trong Phật giáo, và nó rất hữu ích, thật sự, hãy nhìn vào một vài hệ thống này, do vì chúng cho chúng ta những sự thấu hiểu khác nhau trong vấn đề nghiệp báo hoạt động như thế nào. Vì mục tiêu của chúng ta không cần thiết để đi vào những chi tiết về những sự khác nhau của những hệ thống, nhưng nó hữu ích để cảnh giác rằng có vài hệ thống. Điều ấy dĩ nhiên có nghĩa, một cách ẩn tàng, rằng chúng ta cũng có những hệ thống Tây phương giải thích những gì đang xãy ra với những gì chúng ta đang kinh nghiêm hay đang trãi qua. Điều ấy không nhất thiết mâu thuẩn với những gì chúng ta nói với nghiệp báo.
Khi chúng ta bắt đầu nhìn vào những giải thích chính xác hơn trong Phật giáo, chúng ta khám phá một cách rất nhanh chóng rằng không phải chỉ có một giải thích. Một có người Tây phương thấy điều ấy hơi không thoải mái. Như nếu chúng ta có một rắc rối hay một hoàn cảnh, chúng ta có thể giải thích trong một vài cách khác nhau, tùy theo quan điểm của chúng ta. Ở phương Tây chúng ta làm như thế, chúng ta có thể giải thích những việc từ quan điểm xã hội, từ quan niệm tâm lý, từ khái niệm kinh tế - điều ấy không có gì ngạc nhiên. Những sự giải thích đa dạng giúp chúng ta thấu hiểu trong một cung cách đầy đủ những gì đang tiếp diễn. Và mỗi cách giải thích về những gì đang diễn ra căn cứ trên một hệ thống nào đấy của tư tưởng – hệ thống của tâm lý học, hệ thống của chính trị học, kinh tế học và v.v… Chúng ta có đôi điều tương tự ở đây trong Phật giáo, và vì thế chúng thấy rằng có vài giải thích từ những hệ thống giáo lý triết học khác nhau về vấn đề nghiệp báo hoạt động như thế nào. Chúng ta cũng có điều ấy ở phương Tây ngay cả trong một hệ thống, như tâm lý học – có thể có có một sự giải thích từ quan điểm của phái Freudian, và sự giải thích theo quan niệm của phái Jungian; một người có thể giải thích mọi việc theo lối xã hội chủ nghĩa, hay trong cung cách tư bản. Chúng ta thấy điều ấy trong Phật giáo, và nó rất hữu ích, thật sự, hãy nhìn vào một vài hệ thống này, do vì chúng cho chúng ta những sự thấu hiểu khác nhau trong vấn đề nghiệp báo hoạt động như thế nào. Vì mục tiêu của chúng ta không cần thiết để đi vào những chi tiết về những sự khác nhau của những hệ thống, nhưng nó hữu ích để cảnh giác rằng có vài hệ thống. Điều ấy dĩ nhiên có nghĩa, một cách ẩn tàng, rằng chúng ta cũng có những hệ thống Tây phương giải thích những gì đang xãy ra với những gì chúng ta đang kinh nghiêm hay đang trãi qua. Điều ấy không nhất thiết mâu thuẩn với những gì chúng ta nói với nghiệp báo.
Nghiệp báo trong cuộc sống
2 – NGHIỆP BÁO ĐỐI DIỆN VỚI NHÂN QUẢ HÀNH TRẠNG
Khi chúng ta nói về nghiệp báo, nghiệp báo là giải thích căn bản của việc làm thế nào và tại sao những kinh nghiệm của vui và buồn của chúng ta lên và xuống – đấy là tất cả về nghiệp báo. Nói cách khác, chúng ta rối rắm hay mê mờ về việc sản sinh sự thăng trẩm vui buồn,kinh nghiệm dễ chịu và khó chịu như thế nào ? Nói cách khác, nó đối diện với nhân và quả, và nhân quả là một chủ đề vô cùng phức tạp. Như Đức Phật đã nói, một chậu nước không đổ đầy bởi giọt nước đầu tiên và nó cũng không phải được rót đầy bởi giọt nước cuối cùng; mà nó được làm đầy bởi sự tích lũy toàn bộ những giọt nước. Tương tự thế, những gì chúng ta kinh nghiệm trong đời sống là kết quả của không chỉ một nguyên nhân – nguyên nhân chỉ là một thứ mà chúng ta chỉ mới làm ngay lập tưc trước hiện tại hay những gì chúng ta đã làm hàng niên kỷ về trước. Nó là kết quả của một khối lượng khổng lồ của những nhân tố nguyên nhân và những điều kiện (nhân duyên). Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của khoa học, bởi vì những gì đang nói là những sự kiện không xãy ra trong cô lập, mà thật sự mọi thứ liên kết với nhau. Chỉ dùng một thí dụ rất đơn giản, tất cả chúng ta không thể hiện diện nơi đây trong phòng này để nghe bài thuyết trình này nếu người Tây Ban Nha đã không đến Mỹ châu, có phải thế không? Đó chỉ là một nguyên nhân để chúng ta hiện diện ở đây. Giống như thế, có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trực tiếp và gián tiếp, chúng cống hiến đến điều mà chúng ta kinh nghiệm ngay bây giờ hay bất cứ thời khắc nào. Tuy nhiên, nghiệp báo đang giải thích những nguyên nhân liên hệ một cách đặc biệt với tâm thức của chính chúng ta. Nhưng có nhiều nguyên nhân cung ứng đến những gì chúng ta kinh nghiệm hay trãi qua – nguyên nhân vật lý, thí dụ, thời tiết, và v.v… Nhiều thứ tác động chúng ta đang đến không chỉ từ tâm thức chính chúng ta, mà cũng từ tâm thức của những người khác. Hãy nói về những chính trị gia, những người quyết định những chính sách khác nhau mà chúng tác dộng đến chúng ta, và những điều ấy cũng có thể bị pha lẫn với sự mê mờ rối rắm nào đấy, có phải không? Nghiệp báo không nói về niềm tin hay tín ngưỡng, nó không nói về định mệnh hay tiền định và những thứ như thế, mà đúng hơn nó nói về việc chúng ta kinh nghiệm mọi thứ như thế nào và thái độ chúng ta tác động như thế nào đến những gì chúng ta kinh nghiệm trong đời sống. Từ ngữ ‘karma’ hay ‘nghiệp báo’ hay nghiệp quả’được dùng trong một ý nghĩa rất phổ biến để liên hệ đến mọi thứ liên hệ ở đây trong thuật ngữ “nhân quả hành trạng’, (nhân thế nào sẽ cho ra quả thế nào); nói cách khác, sự liên hệ nhân quả đến từ thái độ và cung cách cư xử của chúng ta. “Nghiệp báo” có thể đang liên hệ đến toàn bộ chủ đề ‘nhân quả hành trạng’ trong tổng quát, hay nó có thể liên hệ một cách rất đặc biệt đến một khía cạnh của toàn bộ tiến trình ấy. Do vậy, nếu chúng ta muốn thấu hiểu cơ chế của nghiệp báo, chúng ta phải nhìn vào nó với một ít chính xác hơn, trong một chi tiết nào đấy.
Khi chúng ta nói về nghiệp báo, nghiệp báo là giải thích căn bản của việc làm thế nào và tại sao những kinh nghiệm của vui và buồn của chúng ta lên và xuống – đấy là tất cả về nghiệp báo. Nói cách khác, chúng ta rối rắm hay mê mờ về việc sản sinh sự thăng trẩm vui buồn,kinh nghiệm dễ chịu và khó chịu như thế nào ? Nói cách khác, nó đối diện với nhân và quả, và nhân quả là một chủ đề vô cùng phức tạp. Như Đức Phật đã nói, một chậu nước không đổ đầy bởi giọt nước đầu tiên và nó cũng không phải được rót đầy bởi giọt nước cuối cùng; mà nó được làm đầy bởi sự tích lũy toàn bộ những giọt nước. Tương tự thế, những gì chúng ta kinh nghiệm trong đời sống là kết quả của không chỉ một nguyên nhân – nguyên nhân chỉ là một thứ mà chúng ta chỉ mới làm ngay lập tưc trước hiện tại hay những gì chúng ta đã làm hàng niên kỷ về trước. Nó là kết quả của một khối lượng khổng lồ của những nhân tố nguyên nhân và những điều kiện (nhân duyên). Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của khoa học, bởi vì những gì đang nói là những sự kiện không xãy ra trong cô lập, mà thật sự mọi thứ liên kết với nhau. Chỉ dùng một thí dụ rất đơn giản, tất cả chúng ta không thể hiện diện nơi đây trong phòng này để nghe bài thuyết trình này nếu người Tây Ban Nha đã không đến Mỹ châu, có phải thế không? Đó chỉ là một nguyên nhân để chúng ta hiện diện ở đây. Giống như thế, có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trực tiếp và gián tiếp, chúng cống hiến đến điều mà chúng ta kinh nghiệm ngay bây giờ hay bất cứ thời khắc nào. Tuy nhiên, nghiệp báo đang giải thích những nguyên nhân liên hệ một cách đặc biệt với tâm thức của chính chúng ta. Nhưng có nhiều nguyên nhân cung ứng đến những gì chúng ta kinh nghiệm hay trãi qua – nguyên nhân vật lý, thí dụ, thời tiết, và v.v… Nhiều thứ tác động chúng ta đang đến không chỉ từ tâm thức chính chúng ta, mà cũng từ tâm thức của những người khác. Hãy nói về những chính trị gia, những người quyết định những chính sách khác nhau mà chúng tác dộng đến chúng ta, và những điều ấy cũng có thể bị pha lẫn với sự mê mờ rối rắm nào đấy, có phải không? Nghiệp báo không nói về niềm tin hay tín ngưỡng, nó không nói về định mệnh hay tiền định và những thứ như thế, mà đúng hơn nó nói về việc chúng ta kinh nghiệm mọi thứ như thế nào và thái độ chúng ta tác động như thế nào đến những gì chúng ta kinh nghiệm trong đời sống. Từ ngữ ‘karma’ hay ‘nghiệp báo’ hay nghiệp quả’được dùng trong một ý nghĩa rất phổ biến để liên hệ đến mọi thứ liên hệ ở đây trong thuật ngữ “nhân quả hành trạng’, (nhân thế nào sẽ cho ra quả thế nào); nói cách khác, sự liên hệ nhân quả đến từ thái độ và cung cách cư xử của chúng ta. “Nghiệp báo” có thể đang liên hệ đến toàn bộ chủ đề ‘nhân quả hành trạng’ trong tổng quát, hay nó có thể liên hệ một cách rất đặc biệt đến một khía cạnh của toàn bộ tiến trình ấy. Do vậy, nếu chúng ta muốn thấu hiểu cơ chế của nghiệp báo, chúng ta phải nhìn vào nó với một ít chính xác hơn, trong một chi tiết nào đấy.
Nghiệp báo trong cuộc sống
NGHIỆP BÁO: Giới Thiệu Tổng Quát Tác giả: Alexander Berzin - Chuyển ngữ: Tuệ Uyển 1 – BỐN CHÂN LÝ CAO QUÝ TRONG NGÔN NGỮ HẰNG NGÀY
Chúng tôi rất vui mừng hiện diện nơi đây một lần nữa tại Xalapa, và chủ đề mà tôi đã từng được yêu cầu để nói tối nay là nghiệp báo. Dĩ nhiên, khi chúng ta nghiên cứu về một chủ đề nào đấy trong Phật giáo, điều quan trọng để có một ý tưởng nào đấy về việc tại sao chúng ta muốn tìm hiểu về nó, điều quan trọng của nó là gì, và tại sao nó phù hợp trong toàn bộ phạm vi của Phật giáo. Một cách căn bản Đức Phật nói về kinh nghiệm của mỗi người, những điều chúng ta kinh nghiệm trong đời sống, những gì sẽ xảy ra. Nền tảng căn bản quan trọng nhất của điều mà tất cả chúng ta kinh nghiệm, mọi người kinh nghiệm là gì? Đôi khi chúng ta buồn rầu, và thỉnh thoảng chúng ta vui vẻ. Đây là cung cách mà kinh nghiệm chúng ta trải qua trong đời sống của chúng ta, có phải không? Khi chúng ta thẩm tra hoàn cảnh đôi khi buồn rầu, và thỉnh thoảng vui vẻ, chúng ta khám phá ra rằng có nhiều vấn đề liên hệ với điều ấy. Khi chúng ta không vui, rõ ràng, đó là khổ não. Không ai thích u sầu, có phải thế không? Chúng ta có thể không vui trong việc nhìn thấy mọi việc, giống như một người bạn đi xa, hay nghe về những việc, những ngôn ngữ khó chịu, và chúng ta cũng có thể không vui khi nghĩ về nhiều việc khác nhau với nhiều loại cảm xúc khác nhau. Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cảm thấy không vui và dường như không có bất cứ một liên hệ với bất cứ những gì chúng ta thật sự nghe và thấy, hay những gì đang xảy ra chung quanh chúng ta. Đây là một vấn đề, có phải không? Nhưng về niềm vui thì thế nào? Đôi khi chúng ta cảm thấy vui vẻ, có phải không? Chúng ta cảm thấy vui nghĩ về điều gì đấy, như nhớ lại một thời điểm tuyệt vời mà chúng ta có với ai đấy. Nhưng khi chúng ta nhìn sâu xa hơn, chúng ta thấy rằng niềm vui này mà chúng ta trãi qua có một vài vấn đề liên hệ với nó. Trước tiên nhất, nó không bao giờ kéo dài, và chúng ta không biết nó sẽ kéo dài bao lâu. Và dường như nó chẳng bao giờ đủ. Chúng ta có thể vui khi ăn một muỗng thức ăn, nhưng điều ấy không đủ - chúng ta muốn ăn thêm và thêm và ăn thêm nữa. Thật sự, đấy là một câu hỏi rất thú vị - khối lượng là bao nhiêu của vật gì đấy mà chúng ta phải ăn nhằm đề thật sự hưởng thụ một cách thích thú với nó? Hãy nghĩ về điều ấy là vấn đề đầu tiên. Một điều sai lầm khác, một thoáng khác của niềm vui này là chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Chúng ta có thể tiếp tục vui trong giây phút tiếp theo, hay chúng ta có thể buồn. Nó có thể thay đổi, vì thế không có gì bảo đảm trong niềm vui này. Thật sự đối với Phật giáo loại quán chiếu hay phân tích này vào trong niềm vui và nổi buồn không phải là điều gì đặc biệt; nhiều đại tư tưởng gia trên thế giới đã từng quán chiếu điều này và giảng dạy về điều này. Nhưng những gì Đức Phật dạy, những gì Đức Phật thấu hiểu là sâu xa hơn về vấn đề này hay khổ đau. Ngài nhìn một cách sâu sắc hơn vào sự thăng trầm trong hoàn cảnh đời sống của mỗi người, và những gì Ngài thấu hiểu là nguyên nhân cho niềm vui ấy thật sự là bộ phận của mỗi thời khắc mà kinh nghiệm của chúng ta trải qua. Nói cách khác, cung cách mà chúng ta kinh nghiệm mọi việc với sự lên và xuống của vui và buồn không ngừng đấy là hoàn cảnh không hài lòng. Thế nên, sau đó, Đức Phật nhìn và thấy nguyên nhân nào ở tại đấy trong mỗi thời khắc và điều gì tiếp diễn liên tục trong hoàn cảnh không hài lòng này, và Ngài thấy rằng nó là sự mê mờ về thực tại, sự rối rắm về hiện thực, hay sự bất giác về hoàn cảnh. Nói cách khác, mê mờ về việc chúng ta hiện hữu như thế nào, mỗi người chung quanh chúng ta tồn tại như thế nào, về thế giới hiển hiện như thế nào. Điều này là hoàn toàn khác biệt với những gì nhiều người khác đã từng nói. Thí dụ, một số những người khác đã từng nói, sự lên và xuống của vui và buồn mà kinh nghiệm chúng ta trãi qua một cách căn bản do bởi tưởng thưởng và trừng phạt: từ việc tuân thủ luật pháp hay từ việc không tuân theo luật lệ. Vấn đề căn bản cho việc cảm thấy vui vẻ hay buồn rầu là ‘vâng lời’, theo ý kiến của nhiều vị thầy. Nhưng Đức Phật nói rằng: không, không phải trường hợp ấy. Nguyên nhân thật sự của sự mê mờ của chúng ta, không là vấn đề của vâng lời hay không vâng lời; nó là sự biểu hiện mê mờ về đời sống. Sau đó, Đức Phật tiếp tục nói rằng sự mê mờ rối rắm ấy không nhất thiết là toàn bộ sự sống, của việc chúng ta nếm mùi hay kinh nghiệm mọi việc như thế nào. Nó không phải ở đó: nó là điều gì đấy mà có thể di chuyển được, và nó có thể cởi bỏ được một cách hoàn toàn, để nó không bao giờ trở lại. Rồi thì Ngài nói rằng cách thật sự để làm thế là hãy thay đổi cung cách kinh nghiệm mọi thứ của chúng ta. Từ bỏ sự mê mờ ấy không phải là vấn đề yêu cầu người nào khác để tháo bỏ nó cho chúng ta, nhưng một cách căn bản đấy là vân đề thay đổi chính thái độ của chúng ta, sự thấu hiểu của chúng ta về thực tại. Nếu chúng ta có thể thay thế sự không hiểu biết với sự thông hiểu và sau đó sở hữu sự thông hiểu này trong mọi lúc, rồi thì chúng ta khám phá ra rằng chúng ta không có sự lên và xuống liên tục của vui và buồn này, và chúng ta không ghi nhớ mãi sự lên và xuống của vui và buồn. Vì thế, đấy là một giáo huấn vô cùng căn bản của Đức Phật, đặt nó vào trong chính ngôn ngữ hằng ngày.
Chúng tôi rất vui mừng hiện diện nơi đây một lần nữa tại Xalapa, và chủ đề mà tôi đã từng được yêu cầu để nói tối nay là nghiệp báo. Dĩ nhiên, khi chúng ta nghiên cứu về một chủ đề nào đấy trong Phật giáo, điều quan trọng để có một ý tưởng nào đấy về việc tại sao chúng ta muốn tìm hiểu về nó, điều quan trọng của nó là gì, và tại sao nó phù hợp trong toàn bộ phạm vi của Phật giáo. Một cách căn bản Đức Phật nói về kinh nghiệm của mỗi người, những điều chúng ta kinh nghiệm trong đời sống, những gì sẽ xảy ra. Nền tảng căn bản quan trọng nhất của điều mà tất cả chúng ta kinh nghiệm, mọi người kinh nghiệm là gì? Đôi khi chúng ta buồn rầu, và thỉnh thoảng chúng ta vui vẻ. Đây là cung cách mà kinh nghiệm chúng ta trải qua trong đời sống của chúng ta, có phải không? Khi chúng ta thẩm tra hoàn cảnh đôi khi buồn rầu, và thỉnh thoảng vui vẻ, chúng ta khám phá ra rằng có nhiều vấn đề liên hệ với điều ấy. Khi chúng ta không vui, rõ ràng, đó là khổ não. Không ai thích u sầu, có phải thế không? Chúng ta có thể không vui trong việc nhìn thấy mọi việc, giống như một người bạn đi xa, hay nghe về những việc, những ngôn ngữ khó chịu, và chúng ta cũng có thể không vui khi nghĩ về nhiều việc khác nhau với nhiều loại cảm xúc khác nhau. Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cảm thấy không vui và dường như không có bất cứ một liên hệ với bất cứ những gì chúng ta thật sự nghe và thấy, hay những gì đang xảy ra chung quanh chúng ta. Đây là một vấn đề, có phải không? Nhưng về niềm vui thì thế nào? Đôi khi chúng ta cảm thấy vui vẻ, có phải không? Chúng ta cảm thấy vui nghĩ về điều gì đấy, như nhớ lại một thời điểm tuyệt vời mà chúng ta có với ai đấy. Nhưng khi chúng ta nhìn sâu xa hơn, chúng ta thấy rằng niềm vui này mà chúng ta trãi qua có một vài vấn đề liên hệ với nó. Trước tiên nhất, nó không bao giờ kéo dài, và chúng ta không biết nó sẽ kéo dài bao lâu. Và dường như nó chẳng bao giờ đủ. Chúng ta có thể vui khi ăn một muỗng thức ăn, nhưng điều ấy không đủ - chúng ta muốn ăn thêm và thêm và ăn thêm nữa. Thật sự, đấy là một câu hỏi rất thú vị - khối lượng là bao nhiêu của vật gì đấy mà chúng ta phải ăn nhằm đề thật sự hưởng thụ một cách thích thú với nó? Hãy nghĩ về điều ấy là vấn đề đầu tiên. Một điều sai lầm khác, một thoáng khác của niềm vui này là chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Chúng ta có thể tiếp tục vui trong giây phút tiếp theo, hay chúng ta có thể buồn. Nó có thể thay đổi, vì thế không có gì bảo đảm trong niềm vui này. Thật sự đối với Phật giáo loại quán chiếu hay phân tích này vào trong niềm vui và nổi buồn không phải là điều gì đặc biệt; nhiều đại tư tưởng gia trên thế giới đã từng quán chiếu điều này và giảng dạy về điều này. Nhưng những gì Đức Phật dạy, những gì Đức Phật thấu hiểu là sâu xa hơn về vấn đề này hay khổ đau. Ngài nhìn một cách sâu sắc hơn vào sự thăng trầm trong hoàn cảnh đời sống của mỗi người, và những gì Ngài thấu hiểu là nguyên nhân cho niềm vui ấy thật sự là bộ phận của mỗi thời khắc mà kinh nghiệm của chúng ta trải qua. Nói cách khác, cung cách mà chúng ta kinh nghiệm mọi việc với sự lên và xuống của vui và buồn không ngừng đấy là hoàn cảnh không hài lòng. Thế nên, sau đó, Đức Phật nhìn và thấy nguyên nhân nào ở tại đấy trong mỗi thời khắc và điều gì tiếp diễn liên tục trong hoàn cảnh không hài lòng này, và Ngài thấy rằng nó là sự mê mờ về thực tại, sự rối rắm về hiện thực, hay sự bất giác về hoàn cảnh. Nói cách khác, mê mờ về việc chúng ta hiện hữu như thế nào, mỗi người chung quanh chúng ta tồn tại như thế nào, về thế giới hiển hiện như thế nào. Điều này là hoàn toàn khác biệt với những gì nhiều người khác đã từng nói. Thí dụ, một số những người khác đã từng nói, sự lên và xuống của vui và buồn mà kinh nghiệm chúng ta trãi qua một cách căn bản do bởi tưởng thưởng và trừng phạt: từ việc tuân thủ luật pháp hay từ việc không tuân theo luật lệ. Vấn đề căn bản cho việc cảm thấy vui vẻ hay buồn rầu là ‘vâng lời’, theo ý kiến của nhiều vị thầy. Nhưng Đức Phật nói rằng: không, không phải trường hợp ấy. Nguyên nhân thật sự của sự mê mờ của chúng ta, không là vấn đề của vâng lời hay không vâng lời; nó là sự biểu hiện mê mờ về đời sống. Sau đó, Đức Phật tiếp tục nói rằng sự mê mờ rối rắm ấy không nhất thiết là toàn bộ sự sống, của việc chúng ta nếm mùi hay kinh nghiệm mọi việc như thế nào. Nó không phải ở đó: nó là điều gì đấy mà có thể di chuyển được, và nó có thể cởi bỏ được một cách hoàn toàn, để nó không bao giờ trở lại. Rồi thì Ngài nói rằng cách thật sự để làm thế là hãy thay đổi cung cách kinh nghiệm mọi thứ của chúng ta. Từ bỏ sự mê mờ ấy không phải là vấn đề yêu cầu người nào khác để tháo bỏ nó cho chúng ta, nhưng một cách căn bản đấy là vân đề thay đổi chính thái độ của chúng ta, sự thấu hiểu của chúng ta về thực tại. Nếu chúng ta có thể thay thế sự không hiểu biết với sự thông hiểu và sau đó sở hữu sự thông hiểu này trong mọi lúc, rồi thì chúng ta khám phá ra rằng chúng ta không có sự lên và xuống liên tục của vui và buồn này, và chúng ta không ghi nhớ mãi sự lên và xuống của vui và buồn. Vì thế, đấy là một giáo huấn vô cùng căn bản của Đức Phật, đặt nó vào trong chính ngôn ngữ hằng ngày.
Thursday, December 23, 2010
Chiếc băng gạc cho trái tim
Chiếc băng gạc cho trái tim
Mẹ, mẹ đang làm gì thế? Cô bé Susie chỉ mới 6 tuổi hỏi mẹ.
- Mẹ đang nấu món thịt hầm cho cô Smith hàng xóm cưng à!
- Vì sao ạ! - Susie thắc mắc.
- Vì cô Smith đang rất buồn con ạ! Con gái cô ấy vừa qua đời và trái tim cô ấy đang tan nát. Chúng ta sẽ chăm sóc cô ấy một thời gian - Bà mẹ dịu dàng trả lời.
- Tại sao lại thế hả mẹ? Susie vẫn chưa hiểu.
- Thế này nhé con yêu. Khi một người rất buồn, họ sẽ không thể làm tốt ngay cả một việc rất nhỏ như nấu một bữa tối hay một số việc vặt khác. Vì chúng ta cùng sống trong một khu phố và cô Smith là hàng xóm của gia đình mình, chuúng ta cần phải giúp đỡ cô ấy. Cô Smith sẽ không bao giờ còn có thể nói chuyện, ôm hôn con gái của cô ấy hoặc làm bất cứ điều gì mà mẹ con mình có thể làm cùng nhau. Con là một cô bé thông minh Susie. Con có thể nghĩ ra cách nào đó để giúp đỡ cô ấy?
Susie suy nghĩ rất nghiêm túc về những điều mẹ nói và cố gắng tìm cách góp phần giúp đỡ cô Smith. Vài phút sau, Susie đã ở trước nhà cô Smith, rụt rè bấm chuông. Mất một lúc lâu cô Smith mới ra mở cửa :" Chào Susie! Cháu cần gì?". Susie cảm thấy giọng của cô Smith rất nhỏ, khuôn mặt của cô rất buồn rầu, như thể cô vừa khóc vì mắt cô hãy còn đỏ mọng nước.
" Mẹ cháu nói con gái của cô vừa mới qua đời và cô đang rất buồn vì tim cô bị thương - Susie e dè xòa bàn tay ra. Trong lòng bàn tay của cô bé là một chiếc băng gạc cá nhân - Cái này dùng để băng cho trái tim của cô ạ". Như để chắc chắn Susie nói thêm:" Cháu đã dùng vài lần và nó rất tốt". Cô Smith há miệng kinh ngạc, cố gắng không bật khóc. Cô xúc động quì xuống ôm chặt Susie, nghẹn ngào qua làn nước mắt: " Cảm ơn! Cảm ơn cháu yêu quí! nó sẽ giúp cô rất nhiều!"
Chiếc băng gạc nhỏ bé nhưng điều kỳ diệu của Susie đã đem đến sự ấm áp cho trái tim tuyệt vọng của cô Smith. Kể từ đó cô gài chiếc băng gạc vào một xâu chìa khóa nhỏ và luôn mang theo bên mình như một sự nhắc nhở phải quên đi nổi buồn đau và mất mát.
Khi phải chịu đựng một nổi đau quá lớn thật không dễ để nhận ngay ra rằng vết thương ấy rồi cũng sẽ lành. Chiếc băng gạc nhỏ bé của Susie trở thành biểu tượng của sự hàn gắn nổi đau và biến tất cả niềm vui, tình yêu, hạnh phúc cô đã có cùng con gái trở thành những kỷ niệm êm đềm dịu ngọt chứ không phải là gánh nặng đeo vào tâm hồn đến suốt cuộc đời.
Mẹ, mẹ đang làm gì thế? Cô bé Susie chỉ mới 6 tuổi hỏi mẹ.
- Mẹ đang nấu món thịt hầm cho cô Smith hàng xóm cưng à!
- Vì sao ạ! - Susie thắc mắc.
- Vì cô Smith đang rất buồn con ạ! Con gái cô ấy vừa qua đời và trái tim cô ấy đang tan nát. Chúng ta sẽ chăm sóc cô ấy một thời gian - Bà mẹ dịu dàng trả lời.
- Tại sao lại thế hả mẹ? Susie vẫn chưa hiểu.
- Thế này nhé con yêu. Khi một người rất buồn, họ sẽ không thể làm tốt ngay cả một việc rất nhỏ như nấu một bữa tối hay một số việc vặt khác. Vì chúng ta cùng sống trong một khu phố và cô Smith là hàng xóm của gia đình mình, chuúng ta cần phải giúp đỡ cô ấy. Cô Smith sẽ không bao giờ còn có thể nói chuyện, ôm hôn con gái của cô ấy hoặc làm bất cứ điều gì mà mẹ con mình có thể làm cùng nhau. Con là một cô bé thông minh Susie. Con có thể nghĩ ra cách nào đó để giúp đỡ cô ấy?
Susie suy nghĩ rất nghiêm túc về những điều mẹ nói và cố gắng tìm cách góp phần giúp đỡ cô Smith. Vài phút sau, Susie đã ở trước nhà cô Smith, rụt rè bấm chuông. Mất một lúc lâu cô Smith mới ra mở cửa :" Chào Susie! Cháu cần gì?". Susie cảm thấy giọng của cô Smith rất nhỏ, khuôn mặt của cô rất buồn rầu, như thể cô vừa khóc vì mắt cô hãy còn đỏ mọng nước.
" Mẹ cháu nói con gái của cô vừa mới qua đời và cô đang rất buồn vì tim cô bị thương - Susie e dè xòa bàn tay ra. Trong lòng bàn tay của cô bé là một chiếc băng gạc cá nhân - Cái này dùng để băng cho trái tim của cô ạ". Như để chắc chắn Susie nói thêm:" Cháu đã dùng vài lần và nó rất tốt". Cô Smith há miệng kinh ngạc, cố gắng không bật khóc. Cô xúc động quì xuống ôm chặt Susie, nghẹn ngào qua làn nước mắt: " Cảm ơn! Cảm ơn cháu yêu quí! nó sẽ giúp cô rất nhiều!"
Chiếc băng gạc nhỏ bé nhưng điều kỳ diệu của Susie đã đem đến sự ấm áp cho trái tim tuyệt vọng của cô Smith. Kể từ đó cô gài chiếc băng gạc vào một xâu chìa khóa nhỏ và luôn mang theo bên mình như một sự nhắc nhở phải quên đi nổi buồn đau và mất mát.
Khi phải chịu đựng một nổi đau quá lớn thật không dễ để nhận ngay ra rằng vết thương ấy rồi cũng sẽ lành. Chiếc băng gạc nhỏ bé của Susie trở thành biểu tượng của sự hàn gắn nổi đau và biến tất cả niềm vui, tình yêu, hạnh phúc cô đã có cùng con gái trở thành những kỷ niệm êm đềm dịu ngọt chứ không phải là gánh nặng đeo vào tâm hồn đến suốt cuộc đời.
Hạnh phúc không có giá
Tiền không làm nên hạnh phúc. Chắc chắn, để sống một cuộc sống yên bình, con người cần phải có được những vật dụng tối thiểu và không phải lo lắng về ngày mai. Vì sẽ rất khó để được hạnh phúc nếu người ta cứ sống ở ngưỡng cửa của sự đói nghèo. Nhưng nếu nói rằng một cuộc sống hạnh phúc được dựa trên con số của các tài khoản ở ngân hàng và số lượng những chiếc xe máy hay ô tô đắt tiền hoặc những chiếc vô tuyến màn ảnh rộng Plasma... thì các cô công chúa ngày nay cũng không hạnh phúc hơn các cô công chúa trong các câu chuyện thần tiên ngày xưa. Vậy thì, hảy ngừng tin vào những luận điểm cho rằng sự tích trữ của cải là phương tiện duy nhất để bạn biết được thế nào là hạnh phúc tuyệt đối.
Muốn nhiều phải có ít!
Ý tưởng về sự giàu có là nguồn gốc của niềm vui dường như đã ảnh hưởng đến khát vọng và lối sống của chúng ta. Mới đây thôi, một nhà tâm lý học người Mỹ đã chứng minh rằng lối sống bị xã hội áp đặt đã khiến cho cuộc sống của chúng ta trở nên bất hạnh.
Rõ ràng, những người mà mục đích duy nhất của họ là có được nhiều tiền, sự nổi tiếng, nhà cao cửa rộng và những chiếc ô tô sang trọng... là những người đã khiến cho cuộc sống của họ trở nên không thỏa mãn nhất.
Họ thường phải đối mặt với sự lo âu và trầm cảm. Sự chất đống của cải vật chất chẳng an ủi được điều gì ngoài túi tiền của chúng ta. Tuy nhiên, rất nhiều người trong số chúng ta có phản xạ mua sắm để được tự làm mình thỏa mãn. Nhưng hạnh phúc nho nhỏ này sẽ là rất ngắn ngủi...
Một cuộc sống đơn giản hơn
Theo các tác giả nghiên cứu khác, cần phải đi xa hơn vấn đề mua sắm hàng ngày của chúng ta. Chính xã hội sẽ phải thay đổi.
Thực tế đã chứng minh rằng với những mục đích vật chất mà xã hội đặt ra như vậy đã gây ra ảnh hưởng đến khát vọng và lối sống của người dân. Nên nhớ rằng làm giàu và hưởng thụ không phải là cách duy nhất để tồn tại và có được hạnh phúc.
Đừng quên rằng những niềm vui lớn lao nhất thường là những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi nhất của cuộc sống hàng ngày. Hạnh phúc trốn ở đâu? Nhưng nếu hạnh phúc không tự mua được vậy thì đâu là chìa khóa của tinh thần?
Theo các nghiên cứu khác của người Mỹ, chìa khóa dẫn đến hạnh phúc cá nhân thì rất nhiều nhưng về cơ bản hạnh phúc của con người có được dựa trên những tiêu chí sau:
* Cảm tưởng được tự do và tự chủ
* Cảm tưởng được là người có ích
* Có được những mối quan hệ khắng khít với người thân
* Đánh giá được bản thân mình.
Từ những tiêu chí trên đây, mỗi người hãy tự tìm cho mình những chìa khóa của sự thoải mái riêng, hạnh phúc riêng dựa trên danh mục không tồn tại.
Lý Thanh Thảo (Femme Actuelle)
Muốn nhiều phải có ít!
Ý tưởng về sự giàu có là nguồn gốc của niềm vui dường như đã ảnh hưởng đến khát vọng và lối sống của chúng ta. Mới đây thôi, một nhà tâm lý học người Mỹ đã chứng minh rằng lối sống bị xã hội áp đặt đã khiến cho cuộc sống của chúng ta trở nên bất hạnh.
Rõ ràng, những người mà mục đích duy nhất của họ là có được nhiều tiền, sự nổi tiếng, nhà cao cửa rộng và những chiếc ô tô sang trọng... là những người đã khiến cho cuộc sống của họ trở nên không thỏa mãn nhất.
Họ thường phải đối mặt với sự lo âu và trầm cảm. Sự chất đống của cải vật chất chẳng an ủi được điều gì ngoài túi tiền của chúng ta. Tuy nhiên, rất nhiều người trong số chúng ta có phản xạ mua sắm để được tự làm mình thỏa mãn. Nhưng hạnh phúc nho nhỏ này sẽ là rất ngắn ngủi...
Một cuộc sống đơn giản hơn
Theo các tác giả nghiên cứu khác, cần phải đi xa hơn vấn đề mua sắm hàng ngày của chúng ta. Chính xã hội sẽ phải thay đổi.
Thực tế đã chứng minh rằng với những mục đích vật chất mà xã hội đặt ra như vậy đã gây ra ảnh hưởng đến khát vọng và lối sống của người dân. Nên nhớ rằng làm giàu và hưởng thụ không phải là cách duy nhất để tồn tại và có được hạnh phúc.
Đừng quên rằng những niềm vui lớn lao nhất thường là những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi nhất của cuộc sống hàng ngày. Hạnh phúc trốn ở đâu? Nhưng nếu hạnh phúc không tự mua được vậy thì đâu là chìa khóa của tinh thần?
Theo các nghiên cứu khác của người Mỹ, chìa khóa dẫn đến hạnh phúc cá nhân thì rất nhiều nhưng về cơ bản hạnh phúc của con người có được dựa trên những tiêu chí sau:
* Cảm tưởng được tự do và tự chủ
* Cảm tưởng được là người có ích
* Có được những mối quan hệ khắng khít với người thân
* Đánh giá được bản thân mình.
Từ những tiêu chí trên đây, mỗi người hãy tự tìm cho mình những chìa khóa của sự thoải mái riêng, hạnh phúc riêng dựa trên danh mục không tồn tại.
Lý Thanh Thảo (Femme Actuelle)
Hãy luôn vui vẻ và mỉm cười trong mọi hoàn cảnh
Có người nói rằng "cuộc sống sau bi phải là hài". Và cũng có người nói rằng cuộc sống sẽ hạnh phúc biết bao cho những người biết cách trở về với sự hồn nhiên của chính mình, với nụ cười tươi vui thật sự mà ngày nay thường hiếm hoi trong cuộc sống đầy ắp công việc và căng thẳng nối tiếp nhau.
Có những người biết vượt lên khó khăn bằng nụ cười - ngay cả trong nghịch cảnh - chính điều đó làm cho họ luôn cảm giác hạnh phúc cho dù bất kỳ điều gì xảy ra đi nữa.
Đừng mất thời gian đánh giá sự hài hước, hoặc tự hỏi, "Việc đó có thật sự đáng buồn cười không?" hay "người khác có thấy nó khôi hài không?" Hãy tận hưởng và cười lên mỗi khi bạn cảm nhận được một điều khôi hài tự nhiên nào đó.
Thông điệp này ngày càng được nhiều nhà cố vấn kinh doanh lưu ý, họ nhận ra rằng khi được cười thoải mái nhân viên sẽ làm việc tích cực hơn. Các doanh nghiệp thường tổ chức những Ngày ăn mặc như Elvis, ngày Hội các chú hề và những cuộc thi ngớ ngẩn như ai có thể ném một máy bay giấy ra xa nhất. Tại sao vậy?
Đôi khi, việc thoát khỏi những lề thói thường ngày sẽ giúp chúng ta tăng sức sáng tạo, mức hiệu quả và mức độ hài lòng trong công việc. Nhưng dù bạn ở nhà hay ở công sở, nhóm Liệu pháp và Hài hước cho rằng "hạnh phúc tuỳ thuộc việc bạn có cười được hay không".
Theo những nghiên cứu trên hàng ngàn người, hạnh phúc gắn liền với sự hài hước. Khả năng cười, đó là cười chính cuộc đời hoặc trước một câu đùa hay, cũng là một nguồn vui sống. Trên thực tế, những ai cảm thấy thích thú với những câu hài hước hóm hỉnh sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn những người khác.
Trích từ "Bí mật của hạnh phúc" - David Niven
Có những người biết vượt lên khó khăn bằng nụ cười - ngay cả trong nghịch cảnh - chính điều đó làm cho họ luôn cảm giác hạnh phúc cho dù bất kỳ điều gì xảy ra đi nữa.
Đừng mất thời gian đánh giá sự hài hước, hoặc tự hỏi, "Việc đó có thật sự đáng buồn cười không?" hay "người khác có thấy nó khôi hài không?" Hãy tận hưởng và cười lên mỗi khi bạn cảm nhận được một điều khôi hài tự nhiên nào đó.
Thông điệp này ngày càng được nhiều nhà cố vấn kinh doanh lưu ý, họ nhận ra rằng khi được cười thoải mái nhân viên sẽ làm việc tích cực hơn. Các doanh nghiệp thường tổ chức những Ngày ăn mặc như Elvis, ngày Hội các chú hề và những cuộc thi ngớ ngẩn như ai có thể ném một máy bay giấy ra xa nhất. Tại sao vậy?
Đôi khi, việc thoát khỏi những lề thói thường ngày sẽ giúp chúng ta tăng sức sáng tạo, mức hiệu quả và mức độ hài lòng trong công việc. Nhưng dù bạn ở nhà hay ở công sở, nhóm Liệu pháp và Hài hước cho rằng "hạnh phúc tuỳ thuộc việc bạn có cười được hay không".
Theo những nghiên cứu trên hàng ngàn người, hạnh phúc gắn liền với sự hài hước. Khả năng cười, đó là cười chính cuộc đời hoặc trước một câu đùa hay, cũng là một nguồn vui sống. Trên thực tế, những ai cảm thấy thích thú với những câu hài hước hóm hỉnh sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn những người khác.
Trích từ "Bí mật của hạnh phúc" - David Niven
Hãy biết cho đi: cho đi là niềm hạnh phúc
Đừng níu kéo những gì không thuộc về mình. Cho đi là một niềm vui. Vì cho đi không phải hoàn toàn mất đi, mà là một cách thu hoạch cao thượng. Cho đi là niềm hạnh phúc, vì cho đi khiến tâm hồn mình thêm rộng lượng và cũng đem lại hạnh phúc cho chính mình. Người ta không có hạnh phúc là bởi cứ mãi bám lấy mọi sự trong cuộc sống của mình.
Trong khu rừng kia có một con khỉ rất hạnh phúc. Nó tìm ăn những trái cây ngọt lịm khi đói và nằm nghỉ ngơi khi mệt. Một ngày, con khỉ đang lang thang bìa rừng thì thấy một ngôi nhà.... Trong ngôi nhà nhỏ bé đó, nó thấy một cái bát to đựng toàn táo, những quả táo tuyệt đẹp. Con khỉ liền trộm lấy một quả và chạy thật nhanh trở lại khu rừng.
Khi đã chạy thật xa, khỉ dừng lại đưa quả táo lên mũi ngửi nhưng chẳng thấy có mùi gì. Nó cố gắng ăn nhưng quả táo cứng ngắc đến mức đau cả răng. Thực ra quả táo này được làm bằng gỗ nhưng rất đẹp và trông như thật. Những con khỉ khác nhìn thấy quả táo cũng thèm được ăn. Con khỉ nọ thấy thế càng giữ chặt quả táo.
Có được quả táo đẹp, con khỉ rất tự hào và hãnh diện. Nó lang thang suốt trong rừng để khoe tài sản quý giá của mình. Quả táo lấp lánh ánh đỏ dưới nắng mặt trời dường như càng hoàn hảo hơn bao giờ hết. Và con khỉ càng ôm khư khư quả táo hơn, mặc dù cơn đói cồn cào trong bụng thúc giục nó đi kiếm cái ăn.
Những trái cây ngọt lịm hương rừng thôi thúc con khỉ, nhưng nó vẫn không chịu buông quả táo trong tay - nó sợ có kẻ nào khác đang rình mò sẽ lấy trộm mất. Tâm trí con khỉ lúc này rất kiệt quệ, nó không thể thư giãn và cố lấy vài phút nghỉ ngơi cho mình. Vì nó vẫn đang cố gắng bảo vệ quả táo.
Con khỉ vẫn còn tự hào với tài sản vô giá này, nhưng nó bắt đầu cảm thấy ít hạnh phúc hơn. Nó tiếp tục đi dọc con đường mòn trong khu rừng, càng ngày càng cảm thấy quả táo nặng hơn. Thực ra bởi nó đang mệt mỏi, đói và kiệt sức. Nó không thể trèo lên cây để hái quả vì tay vẫn còn bận giữ quả táo. Điều gì sẽ xảy ra nếu nó tiếp tục ôm quả táo như vậy? Có lẽ nó sẽ buông bỏ…?
Mùi thơm của trái cây trước mặt toả hương thơm ngát, những quả chín đỏ mọng như trêu người. Đắn đo một lúc, con khỉ quyết định buông quả táo bằng gỗ, trèo lên cây hái quả ăn và cảm thấy ngay rằng: Hạnh phúc đã trở lại.
Đôi khi chúng ta cố gắng giữ chặt những giá trị tưởng chừng rất lớn mà không dám cho đi, đổi lại chỉ nhận lấy sự mệt mỏi đến cùng kiệt. Thật ra, hạnh phúc không phải là điều xa xôi, khó tìm. Hạnh phúc có thể tìm được bằng những điều chỉnh, thay đổi trong cuộc sống. Hạnh phúc có thể tìm được trong sự chia sẻ chân thành, trong sự tha thứ, trong lòng dũng cảm, trong tư duy tích cực hướng đến một ngày mai tốt đẹp hơn. Hãy biết cho đi và bạn sẽ được nhận lại nhiều hơn thế. Đó chính là hạnh phúc của cuộc sống, đó là nghĩa thật sự của : Cho đi là niềm hạnh phúc.
Quà tặng của nỗi đau
Trời lấy đi của Hướng Dương đôi chân, nhưng bù lại cho cô giọng nói và nụ cười có thể khơi dậy niềm vui sống nơi những bé thơ đang trong cơn tuyệt vọng. Những bài học từ chính cuộc đời cô, từ những trang sách nói chính là “quà tặng của nỗi đau”.
Quà tặng ấy không chỉ dành cho những bé thơ đã bị cướp đi ánh sáng, mà cho cả những người còn hai con mắt vẫn như kẻ vô minh…
25 tuổi, đang trong thời xuân sắc, một biến cố bất thần đổ xuống đã khiến chị sau đó nhiều lần muốn tìm đến cái chết để chấm dứt cả nỗi đau thể xác và tinh thần… Điều kỳ diệu nào đã giúp chị thoát khỏi cái hố thẳm đen ngòm ấy?
Đó là cú sốc quá lớn trong đời tôi. Mỗi lần tỉnh dậy nhìn xuống hai chân cụt lủn, thương tích đầy mình, mặt mày tan nát hết, tôi lại khóc, lại trách ông trời. Tôi khóc nói với bố: “Con không muốn sống nữa”. Bố ôm lấy tôi: “Dù không muốn sống cho con thì cũng phải sống cho bố mẹ. Bố mẹ luôn cần đến sự hiện diện của con trong cuộc đời này, và sẽ luôn ở bên con…”.
Mẹ đứt ruột nhìn tôi, lặng lẽ lên chùa thỉnh một số sách của các vị thiền sư về cho tôi đọc. Không ngờ những cuốn sách đó đã giúp tôi tìm thấy con đường. Tôi bỗng hiểu ra rằng những tai hoạ xảy đến trong đời đều có giá trị của nó, giúp ta nhận chân ra nhiều sự việc, nhìn thấy cuộc đời rõ ràng hơn, tự tin hơn vào sức mạnh tự thân, để chuyển hoạ thành phúc. Ông trời “bắt phong trần phải phong trần”, nhưng thanh cao hay không thì tự mình làm được.
Và nhân duyên với các em khiếm thị trường Nguyễn Đình Chiểu đã giúp chị tận lực đưa sách nói đến với các em?
Chị có bao giờ nhìn thấy trước mắt mình cả trăm em bé bị mù chưa? Một cảm giác thật khủng khiếp. Nó gây ra trong tôi một sự chấn động ghê gớm, phải bằng mọi cách làm được cái gì đó cho các em… Thật lạ, lần đầu tiên nghe giọng nói của tôi, các em đã yêu quý liền, cứ đòi tôi đọc truyện cho nghe. Nhìn những gương mặt ngây thơ sáng bừng lên, tôi thấy nghẹn ngào. Lúc chia tay, các em xúm lại hỏi hôm sau tôi có đến đọc tiếp nữa không. Từ đó, tôi phát hiện ra nhu cầu sách nói rất lớn cho những em bé khiếm thị. Tìm hiểu kỹ, tôi biết sách nói đã phát triển rất mạnh ở các nước mấy chục năm qua, và trở thành chương trình của chính phủ, nhưng ở Việt Nam lúc ấy còn quá mới mẻ.
Bắt đầu từ số không, với một máy thu âm nhỏ và một phòng nhỏ do công ty Thế Kỷ 21 cho mượn, tôi tự viết dự án sách nói cho người mù, tự đọc, tự thu, tự làm âm nhạc… rồi nhân bản đưa vô các trường mù… Cứ thế góp gió thành bão.
Không chỉ cặm cụi thu âm tối ngày, chị còn chống đôi nạng gỗ đi gõ cửa khắp nơi để tìm nguồn tài trợ. Có bao giờ chị thấy tủi thân vì bị từ chối, bị xúc phạm?
Bất cứ việc thiện nào đến tay mình đều làm với cái tâm hoan hỉ, không phân biệt lớn hay nhỏ. Ban đầu công việc tưởng chừng quá sức, khi nào đuối quá, tôi cầu nguyện chư Phật. Có lẽ do mình thành tâm nên may mắn được gặp những người thành tâm thực sự. Tôi nhớ mãi những ân nhân đã giúp mình trong những ngày đầu tiên, dù chưa biết mình là ai, có làm được gì không. Đó là người đã cho tôi mượn căn phòng đầu tiên, dù lúc ấy giá thuê cả ngàn đôla. Ông Ngô Minh Đường, một Việt kiều Pháp đã cho tôi 3 triệu đồng mua băng làm sách nói. Ông Phạm Đức Trung Kiên cho 1.000 USD, ông Phạm Phú Ngọc Trai cho chiếc bàn chúng ta đang ngồi đây. Cục Bưu chính viễn thông thì nhận phát miễn phí… Chính nhờ những tấm lòng hảo tâm ấy mà các em trường mù của TP.HCM và cả nước đã có hơn 1.000 tựa sách nói, với trên 250.000 sách nói miễn phí, gồm đủ các thể loại, từ sách giáo khoa, sách văn học, sách dạy làm người đến khoa học thường thức…
Công việc này cần sự kiên nhẫn kinh khủng. Nhiều khi bị chối từ, bị ghẻ lạnh phũ phàng nhưng mình quên đi, coi như vấp phải cục gạch. Nhớ làm gì cho mệt. Mình làm với cái tâm xả bỏ, làm hết sức mình, còn được hay không thì do nhân duyên thôi, nên tôi không bị tổn thương. Hay có lẽ mình bị tổn thương quá nhiều rồi nên bây giờ chẳng gì có thể làm mình đau đớn nữa.
Tôi nhớ mãi một kỷ niệm ở Hà Nội. Một chiều rất đẹp, anh chủ tịch hội Người mù mời tôi đi ăn bánh tôm Hồ Tây. Đột nhiên anh nói với tôi: “Em có thấy chiều hồ Tây đẹp vô cùng không?” Tôi rưng rưng trước câu nói tuyệt vời từ một người mù! Được sống với những tâm hồn đẹp đẽ thơ mộng ấy, làm sao có thể cho phép mình tủi thân… Rất may càng ngày thư viện càng có thêm nhiều tình nguyện viên. Đó là các anh các chị văn nghệ sĩ, phát thanh viên, biên tập viên đài truyền hình. Đội ngũ tình nguyện viên bây giờ đã lên đến 20 người, làm việc hoàn toàn không có thù lao. Điều này khiến tôi thật sự ấm lòng.
Khi yêu thương các em bé mù một cách sâu sắc, dường như nỗi đau trong chị cũng tan biến? Chị đã tìm thấy sự bình yên chưa?
Khi hoà nỗi đau của mình vào nỗi đau của nhiều người khác, tự nhiên tôi thấy nỗi buồn tan biến đâu mất. Bây giờ, tôi có một công việc đầy ý nghĩa để làm, một niềm vui lúc nào cũng tràn ngập, đó là tình cảm rất chân thành từ các em bé đơn côi. Nguyễn Văn Long, một trong những cử nhân mù đầu tiên của ngành sử học đã tặng tôi một bó hoa nhân ngày 8/3. Bó hoa do đích thân em đi mua, và em đã nói với người bán hoa hãy bán những đoá đẹp nhất. Đó là những tình cảm mà không tiền bạc nào mua nổi.
Mười lăm năm trôi qua kể từ khi biến cố ấy, năm nay tôi đã bốn mươi tuổi. Tất cả tuổi trẻ đã dành cho các em, tôi thấy mình không có gì phải nuối tiếc. Các em rất sợ tôi… đi lấy chồng! Và tôi đã hứa với các em rằng sẽ không bao giờ bỏ các em. Với tôi bây giờ, tình yêu đôi lứa không còn quan trọng nữa. Tôi sẽ làm việc đến kiệt sức (cười hạnh phúc).
Con người luôn luôn phải đối diện với những bất trắc, tai hoạ, khủng hoảng… Theo chị, làm thế nào để có sự chuẩn bị trước về tinh thần? Nhìn về tuổi trẻ bây giờ, chị thấy họ thiếu nhất điều gì?
Cuốn sách ảnh hưởng nhất đến cuộc đời tôi là tác phẩm Bàn về hạnh phúc của Mathieu Ricard, một tu sĩ Phật giáo, một nhà khoa học. Đó là chỗ dựa tinh thần, tâm linh cho tôi, như một cơn mưa rào tưới tẩm tâm hồn đang héo úa trở nên tươi tắn lại… Con người luôn đi tìm hạnh phúc mà không biết hạnh phúc là gì. Ngay cả tôi trước khi bị biến cố ấy cũng không xác định được. Lúc ấy tôi là một cô giáo mộng mơ, nghĩ hạnh phúc chỉ là yêu đương, và rất mông lung về con đường phía trước. Hạnh phúc đó mong manh dễ vỡ lắm…
Lớp trẻ bây giờ giỏi giang, thông minh, nhạy bén, nhưng dường như ít người tìm được cho mình một lẽ sống, một mục đích cao cả cho cuộc đời. Nhân duyên đã đưa tôi đến với các em bé mù, cả hai đều khao khát đem đến hạnh phúc cho nhau, nhưng đâu có dễ để biến ước mơ thành sự thật. Sức mạnh nội tâm chỉ có được khi hạnh phúc của mình được đặt trên những cơ sở vững chắc. Tri thức không phải là việc làm chủ hàng đống thông tin và kiến thức, mà là hiểu biết chân thực về bản chất của cuộc sống, biết nguyên nhân khiến mình khổ để diệt khổ, biết mở rộng lòng nhân từ, nhìn mọi vật xung quanh với tấm lòng khoan dung, không bám chấp…
Giá trị cuộc sống không phải là của cải, tiền bạc, mà nằm ở mục đích mà mình xác lập để sống, để cống hiến trong suốt cuộc đời. Khi sống cho người khác cũng là sống cho mình nhiều nhất, niềm vui sẽ len lỏi trong tâm hồn lúc nào không hay. Nếu đem hết tâm sức vì công việc, và cảm hoá nhiều người cùng chung tay với mình để làm, tôi tin sẽ tạo nên một sức mạnh vô cùng lớn…
Theo Sài Gòn Tiếp Thị
Saturday, December 11, 2010
Tào Tháo vì sao muốn giết Hoa Đà? (Phần II)
Tào Tháo đã “thân lý quốc chính” (tự thân xử lý việc nước), vì thế ông ta đương nhiên có quyền sinh sát, có thể dùng pháp lệnh nhà nước đàng hoàng mà giết người. Huống chi người chọc giận ông ta chỉ là một lang trung, địa vị rất thấp, giết cũng đâu phải là vấn đề. Vì thế Tào Tháo vì tức giận mà xử sự cảm tính, đó chính là điều dẫn đến hai nguyên nhân Tào Tháo giết Hoa Đà.
Một là, có thể giết. Hai là không có ảnh hưởng gì lớn. Nhưng đây chỉ là nguyên nhân bề mặt. Nguyên nhân chân chính khiến Tào Tháo giết Hoa Đà chính là vì Tào Tháo trước nay không coi Hoa Đà là “người”. Đương thời chế độ pháp luật bảo vệ cho quyền uy của Tào Tháo chứ không mảy may bảo về quyền sống của Hoa Đà.
Về phía Hoa Đà mà nói, việc ông ta không chịu “vung dao mổ” là một cái cớ để Tào Tháo giết.
Thứ nhất, ông ta không muốn làm thầy lang cho riêng Tào Tháo, mà muốn làm một lang trung lang thang khắp nơi chữa bệnh cho bách tính chứ nhất định không chịu phục vụ cho một người. Vì thế làm một thị y (thầy thuốc hầu) cho Tào Tháo không phải là mong muốn của Hoa Đà. Vì thế, chức thị y này Hoa Đà không hoàn toàn nghĩ tới. Hoa Đà lấy lý do là vợ có bệnh để không đến Hứa Đô. Nhưng mà Hoa Đà cũng là một con người, ông ta cũng có quyền lựa chọn đi hay không đi!
Thứ hai, nhớ nhà. Hoa Đà truyện trong Hậu Hán thư và Tam Quốc chí đều nói rằng thời gian Hoa Đà trị bệnh cho Tào Tháo rất lâu, xa nhà, nhớ nhà đến sốt ruột. Vì nhớ nhà mà không muốn phục vụ Tào Tháo nữa. Lựa chọn ai để phục vụ là quyền lợi chính đáng của Hoa Đà, điều này đâu phải là tội?
Thứ ba, không hiểu đầy đủ về Tào Tháo. Hoa Đà đã không hiểu đầy đủ về một nhân vật gian hùng thời loạn như Tào Tháo, càng không hiểu đầy đủ về quyền sinh sát mà Tào Tháo đã chế độ chuyên chế ban cho. Hoa Đà từ chối không đi với lý do là vợ bị bệnh nhưng lý do này rất dễ bị người ta phát hiện . Nếu bị Tào Tháo phát hiện ra thì sao ? Điều này Hoa Đà dường như không nghĩ tới, không hề có phương án để đối phó. Giống như Hoa Đà là một danh y nổi tiếng, nhưng trong con mắt Tào Tháo ông ta chỉ là một kẻ “tiểu nhân”. Không chỉ là Tào Tháo, những quan lại thời đó đều không coi những người không phải là quan là con người chứ đừng nói đến nhân tài. Chúng ta nói Tào Tháo là kẻ yêu tài nhưng mà Tào Tháo không hề yêu người có tài. Vì thế những kẻ thống trị chuyên chế đều khu biệt “nhân” và “tài”, chỉ yêu “tài” chứ không yêu “nhân”. Đây cũng là cách nhìn nhân tài của chế độ chuyên chế.
Hoa Đà trở thành một danh y nổi tiếng, được nhiều người tôn kính là do những thường dân bách tính, là những người bệnh trong nhân dân.. Vì thế, Hoa Đà muốn lấy lý do vợ mình mắc bệnh để không làm thầy lang hầu hạ Tào Tháo là một suy nghĩ giản đơn và ấu trĩ. Tào Tháo có lý do để giết Hoa Đà, Hoa Đà lại không suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện, vì thế ông ta chẳng phải cũng có một phần trách nhiệm trong cái chết oan uổng của mình hay sao?
Cả Tam Quốc chí và Hậu Hán thư đều không ghi chép việc Hoa Đà đề xuất mổ đầu Tào Tháo để trị bệnh. Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung ghi chép về cái chết của Hoa Đà là thuần túy hư cấu. Nhưng những hư cấu của Tam quốc diễn nghĩa cũng không phải là hoàn toàn vô căn cứ, nó cũng có nền tảng hiện thực của nó: Một là Hoa Đà có thể dùng “Ma phí tán” để phẫu thuật bụng. Hai là Hoa Đà giết là sự thực. La Quán Trung muốn ca ngợi Hoa Đà mới có chuyện Hoa Đà đề nghị Tào Tháo mổ đầu chứ không hề có chuyện này.
Tam Quốc diễn nghĩa là một trong bốn bộ tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng của Trung Quốc, Hoa Đà cũng là một danh y trong truyền thuyết người Hoa. Vì thế việc ông ta muốn dùng rìu sắc mổ đầu Tào Tháo để lấy “phong diên” mới được lưu truyền rộng rãi nhưng hoàn toàn không phải là sự thực về cái chết của Hoa Đà.
Liên quan đến cái chết của Hoa Đà, gần đây người ta đưa ra một nguyên nhân: Hoa Đà dựa vào y thuật cao siêu của mình muốn đòi Tào Tháo ban quan chức, kết quả bị Tào Tháo giết.
Luận điểm này là gì?
Một là “tâm lý bất bình”. Hoa Đà vốn là một người đọc sách, đến cuối đời vẫn là một thầy thuốc bình thường nên tâm lý hay bất bình. Đặc biệt là sau khi danh tiếng của ông ta ngày càng nổi, càng tiếp xúc nhiều hơn với quan lại quý tộc, nhìn thấy những người này làm quan, nội tâm càng cảm thấy bất bình. Vì thế Hậu Hán Thư – Hoa Đà truyện, mới nói Hoa Đà là “người ghét việc ác, khó mà có được”. Hoa Đà vì không thể làm quan nên tính cách càng ngày càng quái dị không thể xử sự giống như người khác .
Hai là “giữ bệnh để làm mình trở nên quan trọng”. Tào Tháo sau khi giết Hoa Đà, công khai nói với mọi người rằng: Hoa Đà có thể trị được căn bệnh đau đầu của ta nhưng có ý không muốn trị, mà chỉ muốn mượn cớ đó để nâng cao giá trị của mình. Ta không giết hắn hắn cũng không chữa dứt hẳn căn bệnh đau đầu cho ta.
Ba là “khuếch đại bệnh tình”. Tào Tháo chỉ bị đau đầu nhưng Hoa Đà nói là bệnh này không thể trị dứt được, kiên trì trị bệnh lâu dài mới mong sống thêm được vài năm.
Tôi cho rằng ba lý do này đều không tồn tại. Bởi vì bề ngoài thì có lý nhưng bên trong thì rất vô lý.
Đầu tiên là “tâm lý bất bình”.
Hoa Đà có thích làm quan không? Trần Khuê đề cử ông ta làm Hiếu liêm nhưng ông ta từ chối. Thái úy Hoàng Uyển mời Hoa Đà, Hoa Đà cũng từ chối không đến. Hiếu Liêm và Trưng Tích là hai con đường lớn để bước vào hoạn lộ thời Đông Hán nhưng Hoa Đà đều không muốn đi theo. Bởi vì Hoa Đà sinh ra vào thời loạn, không muốn làm quan. Một người không muốn làm quan vì sao phải lợi dụng Tào Tháo để đòi một chức quan?
Hoa Đà tâm lý bất bình có thể là sự thật nhưng Hoa Đà vẫn nhận lời Tào Tháo đến trị bệnh, đồng thời còn “thường ở bên cạnh”. Nếu muốn cầu quan nơi Tào Tháo thì sao không kéo dài thời gian trị bệnh cho ông ta? Sau đó lại còn lấy lý do vợ bị bệnh để không vào phủ chữa bệnh cho Tào Tháo, rõ ràng là không muốn nhận sự biết ơn của Tào Tháo, cũng không muốn bị giam cầm trong cái lồng của Tào Tháo. Nói “giữ bệnh” và “dứt căn” thực ra là cường điệu. Nếu như Tào Tháo lấy việc “giữ bệnh” để thêm tội cho Hoa Đà, thì sao Hoa Đà không “trị dứt căn” để thoát khỏi sự trị tội của Tào Tháo. Có thể thấy, Hoa Đà nhận lời mời của Tào Tháo, thuần túy là trị bệnh chứ không phải là có ý cầu làm quan. Bỏ Tào mà đi là vì không thể trị dứt bệnh chứ không phải là không muốn chữa.
Vì thế luận về cái chết của Hoa Đà tất nhiên phải luận về vấn đề: Hoa Đà vui thú với nghề y hay xấu hổ với nghề y?
Hoa Đà không muốn làm quan thời loạn là điều nhất quan từ trước tới sau. Trước không muốn người tiến cử, sau không muốn phụ giúp Tào Tháo. Bởi vì tư tưởng chính thống ở Hoa Đà rất sâu. Tào Tháo, là “kẻ lấy danh nghĩa thiên tử để ra lệnh chứ không tự coi là thần”. Đối với một người có tư tưởng chính thống như Hoa Đà đương nhiên không hợp. Hoa Đà là một lương y, ông ta có nguyện vọng cứu xã hội. Thậm chí thân bị giam trọng ngục tối vẫn muốn viết sách để lưu truyền hậu thế, hy vọng y thuật của mình có thể cứu giúp được nhiều người hơn nữa. Ông đã truyền Ngũ cầm hý để rèn luyện thân thể và dạy châm cứu để trị bệnh. Có thể thấy là Hoa Đà vui với nghề y chứ không xấu hổ với nghề y.
Vì sao một người lấy nghề y làm vui như Hoa Đà lại vẫn có tư tưởng “thân là nhân sĩ, lấy nghề y để dựng nghiệp, thường cảm thấy tự ân hận”. Điều này đối với nhận định Hoa Đà vui với nghề y chẳng phải là mâu thuẫn lắm sao?
Hoa Đà cũng là một người đọc sách “thông hiểu các kinh”, đương nhiên bản thân cũng muốn làm quan. Nhưng Hoa Đà sinh ra vào cuối thời Đông Hán, chính trị cực kỳ hỗn loạn, Hoa Đà lại không có người giúp đỡ, không có hoàn cảnh vì thế đọc sách làm quan đối với Hoa Đà thực ra là một tham vọng quá cao.
Không thể làm quan, nhưng con người ta vẫn phải sống nên Hoa Đà mới làm nghề y. Dùng nghề y để mưu sinh đối với người có y thuật cao siêu như Hoa Đà là không thành vấn đề. Vì thế Hoa Đà mới trở thành thầy thuốc du hành tứ phương để cứu người. Đồng thời trên đường hành nghề, y thuật của Hoa Đà cũng được nâng cao, cảm thấy sâu sắc rằng: Bách tính nhân dân trong đời loạn như thế này rất cần những danh y như Hoa Đà. Chính vì nhu cầu xã hội và y thuật cao siêu của Hoa Đà phối hợp mới tạo thành một thần y Hoa Đà vui vì bốc thuốc chữa bệnh cứu người như vậy.
Tuy Hoa Đà phải lấy nghề y làm sự nghiệp, cũng cảm thấy bất bình nhưng trải qua nhiều năm tháng hành nghề y, Hoa Đà biểu hiện một nhiệt tình thực sự đối với nghề này.
Trên đường hành nghiệp, Hoa Đà từng gặp một bệnh nhân bị nghẽn yết hầu, rất muốn ăn một thứ gì đó nhưng không thể ăn được. Người nhà dùng xe kéo anh ta đi tìm thầy thuốc. Hoa Đà nghe thấy anh ta kêu đâu mới dừng xe lại xem bệnh. Xem xong, Hoa Đà nói với người nhà anh ta rằng: Vừa rồi tôi gặp trên đường một tiệm bánh, trong bánh có rất nhiều tỏi và giấm. Đi mua lấy 3 thăng hai loại đó, uống vào, bệnh tự nhiên sẽ khỏi. Người nhà bệnh nhân y lời làm theo, mua giấm và tỏi cho bệnh nhân uống. Uống xong bệnh nhân cảm thấy buồn nôn rồi nôn ra một con giun, bệnh cũng vì thế mà khỏi. Lúc đó Hoa Đà đã đi mất, người bệnh bèn treo con giun vào bên xe, tự mình đến nhà Hoa Đà để cảm tạ. Hoa Đà không vẫn chưa trở về, con của ông vẫn đang chơi ở cửa, nhìn thấy người tới, ngay lập tức tự nói với mình, chắc chắn là đến gặp cha ta, bên xe treo một con giun chứng tỏ điều đó. Người bệnh nhân này tiến đến gần nhà của Hoa Đà mới thấy trên bức tường phía bắc nhà Hoa Đà có treo đến chính mười con giun.
Ví dụ này rất điển hình. Người bệnh rên rỉ, Hoa Đà nghe tiếng rên mà tới, chủ động tìm bệnh nhân để trị bệnh, nói cách trị bệnh cho bệnh nhân rồi đi. Người bệnh tìm đến nhà để cảm ơn, con của Hoa Đà nhìn thấy bên xe của bệnh nhân có treo con giun đũa thì biết là người đã được cha mình chữa khỏi. Bệnh nhân nhìn bức tường của nhà Hoa Đà mới biết Hoa Đà là người chuyên chữa loại bệnh này.
Lại nói đến điều thứ hai, “giữ bệnh để tăng sự quan trọng của mình”
Đây là câu nói của Tào Tháo sau khi giết Hoa Đà. Vì thế không loại trừ nhân tố là Tào Tháo dùng câu nói này để tự bào chữa cho mình. Đồng thời, nhân tố này là rất quan trọng. Hoa Đà là một danh y. Khi Tào Tháo quyết định giết Hoa Đà thì mưu sĩ quan trọng nhất của Tào Tháo là Tuân Húc đã ra sức can gián... Vì vậy sau khi giết Hoa Đà, Tào Tháo cũng vì thế mà nhận sự phê phán gay gắt của dư luận. Do đó cách nói “giữ bệnh của ta để làm tăng sự quan trọng của mình” là rất khó tin. Trên sự thực, bệnh đau đầu của Tào Tháo là rất khó chữa.
Nhưng cũng cần chú ý đến một phương diện khác, Tào Tháo là một người bệnh toàn tâm muốn được chữa khỏi, Hoa Đà là một thầy thuốc trị bệnh không phân biệt người bệnh. Nhưng giữa hai người lại rất khó để hiểu nhau. Hoa Đà cho rằng căn bệnh của Tào Tháo khó trị khỏi được, còn Tào Tháo lại cho rằng Hoa Đà “giữ bệnh để làm tăng sự quan trọng của mình”.
Cuối cùng là điều thứ ba, “khuếch đại bệnh tình”
Cái gọi là khuếch đại bệnh tình, theo ý tôi là sự thẳn thắn.
Bệnh “phong diên” là một loại bệnh rất khó chữa. Bệnh này tuy chỉ là đau đầu nhưng rất khó trị khỏi. Khi phát tác người bệnh đau dữ dội. Đồng thời bệnh có biến chứng. Biến chứng ở Tào Tháo chính là tâm hoảng loạn, mắt mờ. Tôi cho rằng Hoa Đà nói với Tào Tháo rằng bệnh này khó chữa khỏi là thực sự cầu thị, nói thực về bệnh tình của ông ta. Lời nói thẳng thắn này không phải là bắt buộc. Bởi vì nguyên nhân chân chính của cái chết Hoa Đà là đã mạo phạm đến cơn đại nộ của Tào Tháo. Mà Tào Tháo cũng không coi Hoa Đà là một con “người”, cũng không hề tôn trọng sự lựa chọn cuộc sống của Hoa Đà.
Lưu Vũ Tích, một thi nhân nổi tiếng đời Đường trong bài Hoa Đà luận có một câu nói nổi tiếng rằng: “Chấp chính giả chi huệ, chân khả úy chư”. Chính là muốn nói Tào Tháo “năm quyền” sinh sát mà xử sự cảm tính như vậy thật chẳng phải là rất đáng tiếc hay sao?
Hy Văn (Vietimes) dịch từ China.com
Một là, có thể giết. Hai là không có ảnh hưởng gì lớn. Nhưng đây chỉ là nguyên nhân bề mặt. Nguyên nhân chân chính khiến Tào Tháo giết Hoa Đà chính là vì Tào Tháo trước nay không coi Hoa Đà là “người”. Đương thời chế độ pháp luật bảo vệ cho quyền uy của Tào Tháo chứ không mảy may bảo về quyền sống của Hoa Đà.
Về phía Hoa Đà mà nói, việc ông ta không chịu “vung dao mổ” là một cái cớ để Tào Tháo giết.
Thứ nhất, ông ta không muốn làm thầy lang cho riêng Tào Tháo, mà muốn làm một lang trung lang thang khắp nơi chữa bệnh cho bách tính chứ nhất định không chịu phục vụ cho một người. Vì thế làm một thị y (thầy thuốc hầu) cho Tào Tháo không phải là mong muốn của Hoa Đà. Vì thế, chức thị y này Hoa Đà không hoàn toàn nghĩ tới. Hoa Đà lấy lý do là vợ có bệnh để không đến Hứa Đô. Nhưng mà Hoa Đà cũng là một con người, ông ta cũng có quyền lựa chọn đi hay không đi!
Thứ hai, nhớ nhà. Hoa Đà truyện trong Hậu Hán thư và Tam Quốc chí đều nói rằng thời gian Hoa Đà trị bệnh cho Tào Tháo rất lâu, xa nhà, nhớ nhà đến sốt ruột. Vì nhớ nhà mà không muốn phục vụ Tào Tháo nữa. Lựa chọn ai để phục vụ là quyền lợi chính đáng của Hoa Đà, điều này đâu phải là tội?
Thứ ba, không hiểu đầy đủ về Tào Tháo. Hoa Đà đã không hiểu đầy đủ về một nhân vật gian hùng thời loạn như Tào Tháo, càng không hiểu đầy đủ về quyền sinh sát mà Tào Tháo đã chế độ chuyên chế ban cho. Hoa Đà từ chối không đi với lý do là vợ bị bệnh nhưng lý do này rất dễ bị người ta phát hiện . Nếu bị Tào Tháo phát hiện ra thì sao ? Điều này Hoa Đà dường như không nghĩ tới, không hề có phương án để đối phó. Giống như Hoa Đà là một danh y nổi tiếng, nhưng trong con mắt Tào Tháo ông ta chỉ là một kẻ “tiểu nhân”. Không chỉ là Tào Tháo, những quan lại thời đó đều không coi những người không phải là quan là con người chứ đừng nói đến nhân tài. Chúng ta nói Tào Tháo là kẻ yêu tài nhưng mà Tào Tháo không hề yêu người có tài. Vì thế những kẻ thống trị chuyên chế đều khu biệt “nhân” và “tài”, chỉ yêu “tài” chứ không yêu “nhân”. Đây cũng là cách nhìn nhân tài của chế độ chuyên chế.
Hoa Đà trở thành một danh y nổi tiếng, được nhiều người tôn kính là do những thường dân bách tính, là những người bệnh trong nhân dân.. Vì thế, Hoa Đà muốn lấy lý do vợ mình mắc bệnh để không làm thầy lang hầu hạ Tào Tháo là một suy nghĩ giản đơn và ấu trĩ. Tào Tháo có lý do để giết Hoa Đà, Hoa Đà lại không suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện, vì thế ông ta chẳng phải cũng có một phần trách nhiệm trong cái chết oan uổng của mình hay sao?
Cả Tam Quốc chí và Hậu Hán thư đều không ghi chép việc Hoa Đà đề xuất mổ đầu Tào Tháo để trị bệnh. Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung ghi chép về cái chết của Hoa Đà là thuần túy hư cấu. Nhưng những hư cấu của Tam quốc diễn nghĩa cũng không phải là hoàn toàn vô căn cứ, nó cũng có nền tảng hiện thực của nó: Một là Hoa Đà có thể dùng “Ma phí tán” để phẫu thuật bụng. Hai là Hoa Đà giết là sự thực. La Quán Trung muốn ca ngợi Hoa Đà mới có chuyện Hoa Đà đề nghị Tào Tháo mổ đầu chứ không hề có chuyện này.
Tam Quốc diễn nghĩa là một trong bốn bộ tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng của Trung Quốc, Hoa Đà cũng là một danh y trong truyền thuyết người Hoa. Vì thế việc ông ta muốn dùng rìu sắc mổ đầu Tào Tháo để lấy “phong diên” mới được lưu truyền rộng rãi nhưng hoàn toàn không phải là sự thực về cái chết của Hoa Đà.
Liên quan đến cái chết của Hoa Đà, gần đây người ta đưa ra một nguyên nhân: Hoa Đà dựa vào y thuật cao siêu của mình muốn đòi Tào Tháo ban quan chức, kết quả bị Tào Tháo giết.
Luận điểm này là gì?
Một là “tâm lý bất bình”. Hoa Đà vốn là một người đọc sách, đến cuối đời vẫn là một thầy thuốc bình thường nên tâm lý hay bất bình. Đặc biệt là sau khi danh tiếng của ông ta ngày càng nổi, càng tiếp xúc nhiều hơn với quan lại quý tộc, nhìn thấy những người này làm quan, nội tâm càng cảm thấy bất bình. Vì thế Hậu Hán Thư – Hoa Đà truyện, mới nói Hoa Đà là “người ghét việc ác, khó mà có được”. Hoa Đà vì không thể làm quan nên tính cách càng ngày càng quái dị không thể xử sự giống như người khác .
Hai là “giữ bệnh để làm mình trở nên quan trọng”. Tào Tháo sau khi giết Hoa Đà, công khai nói với mọi người rằng: Hoa Đà có thể trị được căn bệnh đau đầu của ta nhưng có ý không muốn trị, mà chỉ muốn mượn cớ đó để nâng cao giá trị của mình. Ta không giết hắn hắn cũng không chữa dứt hẳn căn bệnh đau đầu cho ta.
Ba là “khuếch đại bệnh tình”. Tào Tháo chỉ bị đau đầu nhưng Hoa Đà nói là bệnh này không thể trị dứt được, kiên trì trị bệnh lâu dài mới mong sống thêm được vài năm.
Tôi cho rằng ba lý do này đều không tồn tại. Bởi vì bề ngoài thì có lý nhưng bên trong thì rất vô lý.
Đầu tiên là “tâm lý bất bình”.
Hoa Đà có thích làm quan không? Trần Khuê đề cử ông ta làm Hiếu liêm nhưng ông ta từ chối. Thái úy Hoàng Uyển mời Hoa Đà, Hoa Đà cũng từ chối không đến. Hiếu Liêm và Trưng Tích là hai con đường lớn để bước vào hoạn lộ thời Đông Hán nhưng Hoa Đà đều không muốn đi theo. Bởi vì Hoa Đà sinh ra vào thời loạn, không muốn làm quan. Một người không muốn làm quan vì sao phải lợi dụng Tào Tháo để đòi một chức quan?
Hoa Đà tâm lý bất bình có thể là sự thật nhưng Hoa Đà vẫn nhận lời Tào Tháo đến trị bệnh, đồng thời còn “thường ở bên cạnh”. Nếu muốn cầu quan nơi Tào Tháo thì sao không kéo dài thời gian trị bệnh cho ông ta? Sau đó lại còn lấy lý do vợ bị bệnh để không vào phủ chữa bệnh cho Tào Tháo, rõ ràng là không muốn nhận sự biết ơn của Tào Tháo, cũng không muốn bị giam cầm trong cái lồng của Tào Tháo. Nói “giữ bệnh” và “dứt căn” thực ra là cường điệu. Nếu như Tào Tháo lấy việc “giữ bệnh” để thêm tội cho Hoa Đà, thì sao Hoa Đà không “trị dứt căn” để thoát khỏi sự trị tội của Tào Tháo. Có thể thấy, Hoa Đà nhận lời mời của Tào Tháo, thuần túy là trị bệnh chứ không phải là có ý cầu làm quan. Bỏ Tào mà đi là vì không thể trị dứt bệnh chứ không phải là không muốn chữa.
Vì thế luận về cái chết của Hoa Đà tất nhiên phải luận về vấn đề: Hoa Đà vui thú với nghề y hay xấu hổ với nghề y?
Hoa Đà không muốn làm quan thời loạn là điều nhất quan từ trước tới sau. Trước không muốn người tiến cử, sau không muốn phụ giúp Tào Tháo. Bởi vì tư tưởng chính thống ở Hoa Đà rất sâu. Tào Tháo, là “kẻ lấy danh nghĩa thiên tử để ra lệnh chứ không tự coi là thần”. Đối với một người có tư tưởng chính thống như Hoa Đà đương nhiên không hợp. Hoa Đà là một lương y, ông ta có nguyện vọng cứu xã hội. Thậm chí thân bị giam trọng ngục tối vẫn muốn viết sách để lưu truyền hậu thế, hy vọng y thuật của mình có thể cứu giúp được nhiều người hơn nữa. Ông đã truyền Ngũ cầm hý để rèn luyện thân thể và dạy châm cứu để trị bệnh. Có thể thấy là Hoa Đà vui với nghề y chứ không xấu hổ với nghề y.
Vì sao một người lấy nghề y làm vui như Hoa Đà lại vẫn có tư tưởng “thân là nhân sĩ, lấy nghề y để dựng nghiệp, thường cảm thấy tự ân hận”. Điều này đối với nhận định Hoa Đà vui với nghề y chẳng phải là mâu thuẫn lắm sao?
Hoa Đà cũng là một người đọc sách “thông hiểu các kinh”, đương nhiên bản thân cũng muốn làm quan. Nhưng Hoa Đà sinh ra vào cuối thời Đông Hán, chính trị cực kỳ hỗn loạn, Hoa Đà lại không có người giúp đỡ, không có hoàn cảnh vì thế đọc sách làm quan đối với Hoa Đà thực ra là một tham vọng quá cao.
Không thể làm quan, nhưng con người ta vẫn phải sống nên Hoa Đà mới làm nghề y. Dùng nghề y để mưu sinh đối với người có y thuật cao siêu như Hoa Đà là không thành vấn đề. Vì thế Hoa Đà mới trở thành thầy thuốc du hành tứ phương để cứu người. Đồng thời trên đường hành nghề, y thuật của Hoa Đà cũng được nâng cao, cảm thấy sâu sắc rằng: Bách tính nhân dân trong đời loạn như thế này rất cần những danh y như Hoa Đà. Chính vì nhu cầu xã hội và y thuật cao siêu của Hoa Đà phối hợp mới tạo thành một thần y Hoa Đà vui vì bốc thuốc chữa bệnh cứu người như vậy.
Tuy Hoa Đà phải lấy nghề y làm sự nghiệp, cũng cảm thấy bất bình nhưng trải qua nhiều năm tháng hành nghề y, Hoa Đà biểu hiện một nhiệt tình thực sự đối với nghề này.
Trên đường hành nghiệp, Hoa Đà từng gặp một bệnh nhân bị nghẽn yết hầu, rất muốn ăn một thứ gì đó nhưng không thể ăn được. Người nhà dùng xe kéo anh ta đi tìm thầy thuốc. Hoa Đà nghe thấy anh ta kêu đâu mới dừng xe lại xem bệnh. Xem xong, Hoa Đà nói với người nhà anh ta rằng: Vừa rồi tôi gặp trên đường một tiệm bánh, trong bánh có rất nhiều tỏi và giấm. Đi mua lấy 3 thăng hai loại đó, uống vào, bệnh tự nhiên sẽ khỏi. Người nhà bệnh nhân y lời làm theo, mua giấm và tỏi cho bệnh nhân uống. Uống xong bệnh nhân cảm thấy buồn nôn rồi nôn ra một con giun, bệnh cũng vì thế mà khỏi. Lúc đó Hoa Đà đã đi mất, người bệnh bèn treo con giun vào bên xe, tự mình đến nhà Hoa Đà để cảm tạ. Hoa Đà không vẫn chưa trở về, con của ông vẫn đang chơi ở cửa, nhìn thấy người tới, ngay lập tức tự nói với mình, chắc chắn là đến gặp cha ta, bên xe treo một con giun chứng tỏ điều đó. Người bệnh nhân này tiến đến gần nhà của Hoa Đà mới thấy trên bức tường phía bắc nhà Hoa Đà có treo đến chính mười con giun.
Ví dụ này rất điển hình. Người bệnh rên rỉ, Hoa Đà nghe tiếng rên mà tới, chủ động tìm bệnh nhân để trị bệnh, nói cách trị bệnh cho bệnh nhân rồi đi. Người bệnh tìm đến nhà để cảm ơn, con của Hoa Đà nhìn thấy bên xe của bệnh nhân có treo con giun đũa thì biết là người đã được cha mình chữa khỏi. Bệnh nhân nhìn bức tường của nhà Hoa Đà mới biết Hoa Đà là người chuyên chữa loại bệnh này.
Lại nói đến điều thứ hai, “giữ bệnh để tăng sự quan trọng của mình”
Đây là câu nói của Tào Tháo sau khi giết Hoa Đà. Vì thế không loại trừ nhân tố là Tào Tháo dùng câu nói này để tự bào chữa cho mình. Đồng thời, nhân tố này là rất quan trọng. Hoa Đà là một danh y. Khi Tào Tháo quyết định giết Hoa Đà thì mưu sĩ quan trọng nhất của Tào Tháo là Tuân Húc đã ra sức can gián... Vì vậy sau khi giết Hoa Đà, Tào Tháo cũng vì thế mà nhận sự phê phán gay gắt của dư luận. Do đó cách nói “giữ bệnh của ta để làm tăng sự quan trọng của mình” là rất khó tin. Trên sự thực, bệnh đau đầu của Tào Tháo là rất khó chữa.
Nhưng cũng cần chú ý đến một phương diện khác, Tào Tháo là một người bệnh toàn tâm muốn được chữa khỏi, Hoa Đà là một thầy thuốc trị bệnh không phân biệt người bệnh. Nhưng giữa hai người lại rất khó để hiểu nhau. Hoa Đà cho rằng căn bệnh của Tào Tháo khó trị khỏi được, còn Tào Tháo lại cho rằng Hoa Đà “giữ bệnh để làm tăng sự quan trọng của mình”.
Cuối cùng là điều thứ ba, “khuếch đại bệnh tình”
Cái gọi là khuếch đại bệnh tình, theo ý tôi là sự thẳn thắn.
Bệnh “phong diên” là một loại bệnh rất khó chữa. Bệnh này tuy chỉ là đau đầu nhưng rất khó trị khỏi. Khi phát tác người bệnh đau dữ dội. Đồng thời bệnh có biến chứng. Biến chứng ở Tào Tháo chính là tâm hoảng loạn, mắt mờ. Tôi cho rằng Hoa Đà nói với Tào Tháo rằng bệnh này khó chữa khỏi là thực sự cầu thị, nói thực về bệnh tình của ông ta. Lời nói thẳng thắn này không phải là bắt buộc. Bởi vì nguyên nhân chân chính của cái chết Hoa Đà là đã mạo phạm đến cơn đại nộ của Tào Tháo. Mà Tào Tháo cũng không coi Hoa Đà là một con “người”, cũng không hề tôn trọng sự lựa chọn cuộc sống của Hoa Đà.
Lưu Vũ Tích, một thi nhân nổi tiếng đời Đường trong bài Hoa Đà luận có một câu nói nổi tiếng rằng: “Chấp chính giả chi huệ, chân khả úy chư”. Chính là muốn nói Tào Tháo “năm quyền” sinh sát mà xử sự cảm tính như vậy thật chẳng phải là rất đáng tiếc hay sao?
Hy Văn (Vietimes) dịch từ China.com
Tào Tháo vì sao muốn giết Hoa Đà? (Phần I)
Tam Quốc diễn nghĩa chép: Tào Tháo mắc bệnh đau đầu, mời danh y là Hòa Đà đến chữa trị. Hòa Đà nói với Tào Tháo, rằng căn nguyên của bệnh đau đầu của ngài chính là do “phong diên”, nó lớn dần lên trong não. Chỉ còn cách là dùng “ma phí tán” sau đó dùng rìu bổ đầu ra mới có thể lấy “phong diên” ra ngoài mới có thể trị triệt để căn bệnh đau đầu của ngài được. Tào Tháo vốn đa nghi vừa nghe qua phương án trị bệnh của Hoa Đà lập tức nổi giận. Ông ta cho rằng Hoa Đà muốn báo thù cho Quan Vũ nên tính mượn cơ hội dùng đao phẫu thuật để giết mình. Trong cơn thịnh nộ, Tào Tháo lập tức sai nhốt Hoa Đà vào ngục tối rồi giết Hoa Đà. Sự kiện này nhờ Tam Quốc diễn nghĩa, một trong tứ đại kỳ thư và hàng loạt những sách bình luận, điện ảnh, phim truyền hình đã lưu truyền rất rộng, không ai là không biết. Nhưng việc Hoa Đà bị giết có thực sự giống như Tam Quốc diễn nghĩa đã ghi chép hay không? Nếu như những gì được ghi lại trong Tam Quốc diễn nghĩa không phải là sự thực lịch sử vậy Hòa Đà rốt cuộc vì sao lại bị Tào Tháo giết?
Trong cái chết của Hoa Đà có một bước ngoặt rất quan trọng mà mọi người đã bỏ qua chính là Tào Tháo đã triệu Hoa Đà đến để trị bệnh cho mình. Nếu như Tào Tháo không triệu Hoa Đà đến khám bệnh, thì Tào Tháo và Hoa Đà, một anh hùng thời loạn, một thầy thuốc tứ phương, anh cứ làm thừa tướng, tôi cứ việc chữa bệnh cho bách tính, không ai xâm phạm đến ai, Hoa Đà tuyệt nhiên không thể bị Tào Tháo giết được. Vì thế muốn biết nguyên nhân vì sao Tào Tháo giết Hoa Đà trước tiên phải lý giải vì sao Tào Tháo lại triệu Hoa Đà đến xem bệnh cho mình?
Trong Tam Quốc chí – Hoa Đà truyện và Hậu Hán thư – Hoa Đà truyện có ghi chép về khả năng chữa bệnh thần kỳ của Hoa Đà rồi sau đó mới nói “Thái tổ nghe tiếng mới triệu Hoa Đà”.
Nhưng sự kiện cuối cùng trước khi “Thái tổ nghe tiếng mới triệu Hoa Đà” được ghi chép trong Tam Quốc chí và Hậu Hán Thư đều là sự kiện cái chết của Thái thú Quảng Lăng Trần Đăng. Cái chết của Trần Đăng là nằm trong dự đoán của Hoa Đà rằng sau ba năm ông ta sẽ phát bệnh (Bệnh này sau ba năm sẽ phát, nếu gặp lương y mới mong chữa được,… Lúc ấy mà Đà này không ở đó, sẽ như lời mà chết). Sau đó mới thấy đoạn “Thái tổ nghe danh mới triệu Hoa Đà”. Vì thế với hai truyện ký về Hoa Đà được ghi lại trong Tam Quốc chí và Hậu Hán thư, có thể thấy rõ rằng việc Tào Tháo triệu Hoa Đà vào phủ chữa bệnh có 3 khả năng:
Một là Tào Tháo nghe y thuật thần kỳ của Hoa Đà mà cho triệu kiến.
Hai là nghe nói Hoa Đà đã dự đoán chính xác về cái chết của Thái thú Trần Đăng mà cho triệu kiến.
Ba là Tào Tháo vì cả hai điều trên mà cho triệu kiến Hoa Đà.
Tình huống thứ nhất là hoàn toàn có thể. Tào Tháo và Hoa Đà vốn là đồng hương, y thuật siêu việt của Hoa Đà mà Tào Tháo không nghe mới là chuyện không bình thường.
Còn trong tình huống thứ hai thì chắc chắn là Tào Tháo và Trần Đăng có mối quan hệ.
Trần Đăng là một người rất được Tào Tháo tín nhiệm. Cha con họ Trần đã làm cho Tào Tháo hai việc lớn vì thế rất được Tào Tháo coi trọng. Một là cha của Trần Đăng là Trần Khuê đã ngăn cản quan hệ thông gia giữa Viên Thuật và Lã Bố. Lã Bố và Viên Thuật không kết được thông gia, cũng không thể liên thủ điều này có vai trò rất quan trọng trong quá trình thống nhất phương Bắc của Tào Tháo. Hai là Trần Đăng đã can ngăn trước khi Lã Bố đến bái kiến Tào Tháo, bí mật nói với Tào Tháo rằng: Lã Bố là người hữu dũng vô mưu, có sữa thì là mẹ, phản trắc bất thường nên sớm diệt trừ. Tào Tháo nghe xong cảm thấy rất vui. Bởi vì Tào Tháo luôn nghĩ rằng Lã Bố là kẻ tất nhiên phải trừ khử vì thế Tào Tháo đã ngay lập tức phong cho Trần Khuê, cha của Trần Đăng chức quan 2.000 thạch, còn Trần Đăng thì được phong làm thái thú Quảng Lăng. Khi chia tay Trần Đăng, Tào Tháo còn cầm tay Trần Đăng nói: “Việc ở phía đông, phải giao phó cho ông”. Chuyện ở phía Đông đều giao phó cho ông là việc gì? Đó chắc chắn là việc Trần Đăng sẽ làm nội ứng cho Tào Tháo trong quân Lã Bố.
Trần Đăng đã không phụ lòng gửi gắm của Tào Tháo. Sau khi Lã Bố thấy Trần Đăng từ chỗ của Tào Tháo trở về, Trần Khuê, Trần Đăng đều được phong quan cao bổng hậu trong lòng lo lắng không yên muốn trở mặt với Trần Đăng. Trần Đăng chỉ nói một câu đã làm lay động Lã Bố. Trần Đăng nói: Sau khi tôi đến gặp Tào Tháo, nói Lã Bố là một mãnh hổ, chỉ có thể cho hắn ăn no thì ngài mới có thể dùng được. Tào Tháo nói, ngươi nói không đúng. Lã Bố là một con đại bàng hung dữ, chỉ cần cho hắn đói một chút hắn mới có thể phục vụ cho ta. Nếu như cho ăn no rồi, hắn sẽ cất cánh mà bay mất. Lã Bố vừa nghe Trần Đăng nói Tào Tháo khen mình là đại bàng, rất cao hứng quên luôn cả mối hiềm nghi của mình.
Vì thế có thể nói trong lòng Tào Tháo, Trần Đăng là một công thần có dũng có mưu. Do đó, khi Trần Đăng bị bệnh và được Hoa Đà chuẩn đoán chắc chắn là thông báo cho Tào Tháo biết: Loại bệnh này ba năm sau sẽ tái phát. Nếu như lúc đó mà gặp được thầy giỏi có thể trị được. Ba năm sau bệnh của Trần Đăng quả nhiên bạo phát, khi ấy Hoa Đà không còn ở đó nữa, Trần Đăng cũng vì thế mà chết.
Cái chết của Trần Đăng ngay lập tức truyền khắp thiên hạ.Tào Tháo coi trọng Trần Đăng như vậy hẳn nhiên cái chết của ông ta sẽ gây ra một chấn động lớn.
Sau khi Trần Đăng chết, Tào Tháo cho triệu kiến Hoa Đà nguyên nhân đương nhiên là khả năng thứ hai. Bởi theo Hoa Đà truyện y thuật thần kỳ của Hoa Đà đều là những việc chữa trị cho dân thường và quan chức cấp thấp. Những người này đối với Tào Tháo chẳng quan trọng gì. Trần Đăng không như vậy. Ông ta là người được Tào Tháo tín nhiệm và coi trọng. Cái chết của Trần Đăng có hai điểm làm kinh động Tào Tháo: Một là thời gian Trần Đăng phát bệnh. Hai là vì không có Hoa Đà ở đó mà Trần Đăng bị chết. Trước là chẩn đoán, sau là trị liệu. Cái chết của Trần Đăng đã chứng minh Hoa Đà trong cả việc chẩn đoán và trị bệnh đều rất có quyền uy.
Một vị thần y như vậy, Tào Tháo đương nhiên rất cần.
Còn như khả năng thứ ba là hiện thực nhất. Có những lời đồn trong dân chúng lại thêm cái chết của Trần Đăng đương nhiên địa vị của Hoa Đà trong Tào Tháo sẽ được nâng cao. Vì thế Tào Tháo mới nghĩ đến việc mời Hoa Đà về trị bệnh.
Đương nhiên vẫn còn một điểm đó chính là nhu cầu của Tào Tháo. Nếu Tào Tháo không có bệnh thì mời một danh y như Hoa Đà làm gì? Tào Tháo mắc bệnh đau đầu. Một khi bệnh này phát, Tào Tháo tâm loạn mắt mờ vô cùng khó chịu.
Tào Tháo triệu Hoa Đà trị bệnh cho mình, các điều kiện khách quan và chủ quan đều đầy đủ.
Một người sở trường trong việc chữa các bệnh nan y như Hoa Đà vừa nhìn thấy Tào Tháo đau đầu, lập tức châm cứu cho Tào Tháo. Châm cứu xong hết đau, vô cùng công hiệu. Nhưng khi đó quan hệ giữa Tào Tháo và Hoa Đà là “thường ở bên cạnh” để lỡ Tào Tháo có phát bệnh thì có thể lập tức trị liệu.
Nhưng “thường ở bên cạnh” hoàn toàn không phải là ngày ngày theo hầu Tào Tháo. Sự dựa dẫm của Tào Tháo vào Hoa Đà không phải là quá lớn. Sau đó, Tào Tháo còn tự mình xử lý việc quốc gia đại sự (Thái tổ thân lý – Thái tổ tự xử lý việc quốc gia đại sự) rất bận rộn mà bệnh tình ngày càng trầm trọng vì thế mới dùng Hoa Đà làm thầy thuốc của riêng mình (sử Đà chuyên thị - dùng Hoa Đà chuyên coi việc sức khỏe cho mình).
“Chuyên thị” và “thường ở bên” không hề giống nhau. “Thường ở bên” là khi cần thì cho gọi, còn “chuyên thị” thì Hoa Đà đã trở thành một thầy thuốc “riêng” hầu hạ cho Tào Tháo.
Vậy “Thái tổ tự mình xử lý việc quốc gia” là vào thời gian nào?
Vào năm Kiến An nguyên niên (tức năm 196) Tào Tháo đón Hiến Đế về Hứa Xương. “Phụng sự thiên tử để lệnh cho thiên hạ”. Khi đó Tào Tháo đã có quyền thế khuynh đảo thiên hạ. Năm Kiến An thứ 5, xuất binh đánh bại Viên Thiệu, đến năm Kiến An thứ 7 Viên Thiệu mắc bệnh mà chết. Đến năm Kiến An thứ 9 Tào Tháo đánh bại Viên Thượng định đô ở Nghiệp Thành. Tháng 1 năm Kiến An thứ 10, Tào Tháo tấn công giết Viên Đàm. Tập đoàn họ Viên cuối cùng đã bị đập tan. Đương nhiên nói sự diệt vong của tập đoàn Viên Thiệu chính là nói Tào Tháo bắt đầu “thân tự xử lý” những việc trọng đại trong triều. Việc triều chính bận rộn đã khiến bệnh đau đầu của Tào Tháo phát tác. Chính lúc đó, Tào Tháo mới quyết định để Hoa Đà thành bác sĩ “riêng” của mình. Hoa Đà từ thân phận một lang trung du hành khắp nơi chưa bệnh trong quá khứ đã bị hạn chế tự do hành động. Đây là một điểm quan trọng.
Nhưng mà Hoa Đà ở bên cạnh Tào Tháo một thời gian liền xin về quê nghỉ phép. Lấy cớ gì để xin nghỉ phép đây?
Trong hai cuốn sử đã dẫn ở trên có chép: Một là về quê lấy thuốc (Hậu Hán thư), hai là nhận được thư của gia đình (Tam Quốc chí). Nhưng không kể là lý do nào, Tào Tháo đều đồng ý.
Tào Tháo vì sao lại đồng ý?
Một là về nhà lấy thuốc thì không thể không đồng ý. Không đồng ý làm sao có thuốc trị bệnh?
Hai là muốn thu phục nhân tâm. Nhận được thư của gia đình mà không cho về chẳng phải Tháo đã đánh mất lòng trung nơi thần y sao?
Nhưng lý do xin nghỉ phép thực sự của Hoa Đà là gì?
Hậu Hán thư – Hoa Đà truyện nói tới bốn lý dó: Một là Hoa Đà tính cách cổ quái (vi nhân tính quái), hai là Hoa Đà ở chỗ Tào Tháo không được như ý muốn (nan đắc ý), ba là cảm thấy xấu hổ vì nghề y (sỉ sĩ y kiến nghiệp), bốn là nhớ nhà (khứ gia tư quy). Tam Quốc chí thì chỉ nói đến một lý do: nhớ nhà (cửu viễn tư gia quy).
Hoa Đà về nhà lấy lý do là bệnh của vợ chưa khỏi cứ kéo dài thời gian nghỉ mà không trở lại phủ Tào Tháo. Tào Tháo nhiều lần viết thư còn sai quan chức địa phương đến thúc giục nhưng không làm Hoa Đà lay chuyển.
Vì sao Tào Tháo thúc bách Hoa Đà như vậy mà ông ta không lay chuyển?
Tam Quốc chí nói là “Đà ỷ năng khánh thực sự” còn Hậu Hán thư nói: “ỷ năng khánh sự”. Cả hai cuốn sử này đều nói giống nhau rằng, Hoa Đà dựa vào y thuật cao siêu của mình không muốn làm một thầy lang hầu hạ riêng cho Tào Tháo.
Tào Tháo biết rằng mình thúc giục mà không lay chuyển được Hoa Đà, lập tức nổi giận truyền người trước sau điều tra phát hiện rằng vợ của Hoa Đà giả bệnh. Vì thế Tào Tháo cho bắt Hoa Đà, giải về giam tại nhà ngục ở Hứa Đô (nay là Hứa Xương Hà Nam). Thông qua tra khảo, Hoa Đà xác nhận mình phạm tội “lừa dối”.
Mưu sĩ lớn nhất của Tào Tháo là Tuân Húc nói với Tào Tháo rằng: Y thuật của Hoa Đà là rất cao, sự sống còn của ông ta có quan hệ đến sinh mệnh của rất nhiều người nên miễn tội cho ông ta. Nhưng Tào Tháo nghe xong không vừa ý, nói với Tuân Húc rằng: Không cần phải lo, trong thiên hạ này lẽ nào lại không tìm được một thầy thuốc như vậy hay sao?
Kết quả một ngôi sao lớn đã rơi, thần y Hoa Đà đã bị Tào Tháo giết.
Tào Tháo là người rất yêu người tài, tiếc người tài và trọng người tài. Hòa Đà cũng là một vị thần y hiếm có vậy tại sao Tào Tháo lại muốn giết Hoa Đà?
Về phía Tào Tháo, Tào Tháo muốn Hoa Đà chuyên tâm điều trị bệnh cho mình đồng thời đối với việc vợ của Hoa Đà bị bệnh, ông ta cũng đã đối xử thấu tình đạt lý. Tào Tháo còn hứa sẽ tặng cho Hoa Đà 40 mươi hộc đậu (từ thời Tống trở về trước, 10 đấu gọi là một hộc), dễ dàng cho phép ông về quê thăm gia đình. Cách làm này của Tào Tháo rõ ràng là để thu phục nhân tâm nhưng làm được việc này đối với Tào Tháo cũng không đơn giản, chí ít nó cũng nói rõ rằng Tào Tháo rất cần Hoa Đà. Nhưng Hoa Đà lại chẳng hề cảm kích cũng không chịu nghe theo mệnh lệnh của Tào Tháo mà về chữa trị cho ông ta, còn lấy việc bệnh tật của vợ để lừa Tào Tháo, không vào phủ chữa bệnh. Tào Tháo đương nhiên nổi giận. Đối với một vị tể tướng triều Đại Hán đang năm mọi quyền sinh sát trong tay, Hoa Đà chỉ làm một phương kỹ (từ dùng chỉ chung các nghề y, bói toán, xem tướng,… thời xưa), tức là kẻ tiểu nhân mà thôi.
Hy Văn (báo điện tử VietNamNet - theo China.com) |
Bất bình thay cho Tào Tháo, tiếng oan mãi cứ ngàn năm?
Dù đã được không ít danh nhân như Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược… dày công giải thích thì nay quan điểm xem Tào Tháo là hoá thân của gian thần vẫn có môi trường sống khoẻ khoắn rộng rãi. Điều này không khỏi khiến chúng ta giật mình trước sức mạnh của văn học, sức mạnh của truyền thống. Bài viết dưới đây xuất phát từ hai luận điểm chủ yếu là những cống hiến của Tào Tháo đối với tác phẩm “Binh pháp Tôn Tử” và thái độ trọng đãi nhân tài của ông để bất bình thay cho Tào Tháo. Bên cạnh đó cũng phân tích bởi “ép Thiên tử cho mình làm Chư hầu, mong hỗ trợ Hoàng đế trị vì, vì thế mà từ đời Tống về sau chẳng còn thấy những lời bình tốt đẹp về Tào Tháo”, có thể cũng giúp giải đáp phần nào lý do vì sao Tào Tháo phải mang trên mình án oan làm nhân vật phản diện suốt hơn 1000 năm.
“Nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đến liền” là câu tục ngữ trong dân gian Trung Quốc. Câu nói này có thể hiểu rằng ông Tào Tháo này khắp cùng nam phụ lão ấu người Trung Quốc đều thuộc nằm lòng cả. Nhưng nhận thức dân gian đối với Tào Tháo lại chỉ gói gọn trong một đại từ “gian hùng một thời”. Nhận thức này chủ yếu đến từ “Tam quốc diễn nghĩa”. “Tam quốc diễn nghĩa” được xếp vào một trong bốn bộ danh tác của văn học cổ điển Trung Quốc cùng với “Hồng Lâu Mộng”, “Thuỷ Hử truyện”, “Tây Du ký”, trong đó có viết lại một câu bất hủ của Tào Tháo: “Thà ta phụ người trong thiên hạ, còn hơn để người trong thiên hạ phụ ta”. Như đổ thêm dầu vào lửa, hết lượt hý kịch, bình thư, điển nghệ suốt trong lịch sử đều dốc sức dặm mắm thêm muối, trên sân khẩu hý kịch Tào Tháo đã mang một bộ mặt trắng toát mắt kẻ chỉ, tượng trưng cho hình ảnh tên gian thần vạn phần gian ác.
Kinh kịch là quốc tuý của Trung Quốc, có thanh thế lớn cả ở trong và ngoài nước, vô số khách nước ngoài cũng chỉ vì kinh kịch mà tới Trung Quốc để tìm hiểu. Những vở trong Kinh kịch như “Xúc phóng Tào”, “Kích cổ giá Tào” và “Từ mẫu giá Tào”, trong vở “Thăm nhà” có vai ông cụ bà cụ, hát giọng hào sảng sôi nổi, uyển chuyển cảm động, làm cho người mê kịch nghe như ngây như dại, nhưng những tình tiết hư cấu này không chỉ vu hại Tào Tháo mà còn hạ thấp Tào Tháo cả về tài trí lẫn năng lực, dựng nên một hình tượng nghệ thuật đa nghi giảo quyệt, giết người không nương tay, ngang ngược bạo hành và tự tư một cách cực đoan.
Diện mạo chân thực của Tào Tháo trong lịch sử ra sao? Thiên đầu tiên trong “Tam quốc chí” dành hẳn làm truyện ký cho Tào Tháo, tức “Vũ Đế kỷ”, đây là truyện ký đầu tiên viết về Tào Tháo trong lịch sử, ước dài khoảng hơn một vạn ba ngàn chữ. Truyện ký ghi thuật lại một cách khách quan công quả của Tào Tháo trong mấy chục năm chinh chiến. Tào Tháo sinh vào năm Đông Hán Vĩnh Thọ nguyên niên (155), mất vào năm Kiến An thứ 25 (năm 220 SCN). Cùng năm, sau cái chết của Tào Tháo, con Tháo là Tào Phi lên kế ngôi Nguỵ Vương. Không lâu sau, Hán Hiến Đế Lưu Hiệp bị bức phải nhường ngôi, Tào Phi trở thành hoàng đế đầu tiên của vương triều Nguỵ, sử gọi là Nguỵ Văn Đế, truy phong cha mình Tào Tháo là Nguỵ Vũ Đế chứ bản thân Tào Tháo lúc sinh thời chưa hề được làm hoàng đế. Tác giả “Tam quốc chí” Trần Thọ gọi ông là: “con người phi thường, kiệt nhân xuất thế”.
Mao Trạch Đông lúc phê vào cuốn “Tư trị thông giám” đã viết, “Tào Tháo thống trị miền Bắc Trung Quốc, sáng lập nước Nguỵ, ông đã cải cách nhiều hủ hoá trong triều Đông Hán, áp chế cường hào, phát triển sản xuất, thực hiện chế độ tuân điền, còn đôn đốc khai hoang, cho thực thi pháp chế, đề xướng tằn tiện, biến một xã hội đã bị phá vỡ nghiêm trọng bắt đầu đi vào ổn định, khôi phục, phát triển. Ngần ấy chẳng lẽ không đủ để khẳng định, chẳng lẽ không phải là tài cán phi thường hay sao? Nói Tào Tháo là gian thần mặt trắng ấy là bản án oan mà quan niệm chính thống của nền chính trị phong kiến đã tạo tác nên, bản án này cần phải được lật lại.” Ông còn ngợi khen khí khái hùng tráng của thơ văn Tào Tháo, trong bài từ “Lương đào sa. Bắc Đới Hà” của mình ông đã viết “Nguỵ Vũ quất roi, Đông lâm Kiệt thạch có áng văn lưu truyền muôn thuở”, vun đắp hình tượng nhà chính trị vĩ đại Tào Tháo. Trong thư ông viết cho các con gái, ông cũng yêu cầu họ phải học thơ văn Tào Tháo để nâng cao tu dưỡng văn học của mình. Trong bài thơ nổi tiếng “Quy tuy thọ” (rùa tuy thọ), Tào Tháo dùng những ngôn từ hùng tráng “tuổi cao tráng chí càng cao, chí ngoài ngàn dặm. Kẻ dạn dày công trạng, cuối đời hùng tâm tráng chí vẫn còn nguyên” để tỏ rõ thế thái của người dù già lão vẫn tráng kiện, câu nói ấy đã trở thành danh ngôn lưu truyền thiên cổ.
Ngày 23 tháng 3 năm 1959, tờ “Nhân dân nhật báo” đã đăng tải bài viết của Quách Mạt Nhược, viện trưởng Viện khoa học Trung Quốc với đầu đề “thay Tào Tháo lật lại hồ sơ”, trong đó có một tiêu đề nhỏ viết rằng: Tào Tháo đã phải làm tấm gương của kẻ phản diện hơn một ngàn năm đầy oan uổng, ngày hôm nay, phải thay ông khôi phục danh dự. Nhà lịch sử nổi tiếng Tiễn Bách Tán cũng đã viết một bài trên tạp chí “Sử học” lúc bấy giờ với tiêu đề “Phải khôi phục danh dự cho Tào Tháo”.
Kìm kẹp Thiên tử, dùng danh nghĩa mà hạ lệnh cho kẻ dưới: bậc đế vương thời hậu thế khó xét cho xuôi
Có thể nói, tài trí của Tào Tháo vượt xa Tôn Quyền, Lưu Bị và Gia Cát Lượng, không hổ danh là nhất đại anh hùng giữa thời loạn thế. Những thành tựu trác việt của ông trong tất cả các mặt chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn học … có công lao không thể phủ nhận. Đặc biệt trong chính sách tôn trọng trí thức và trọng dụng nhân tài, những cống hiến của ông xứng đáng được học hỏi, mang ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Lại nhờ sức hút tỏa ra từ nhân vật này mới có thể khiến hàng trăm văn nhân võ tướng biết tên biết mặt của thời bấy giờ đều tới quy tụ dưới trướng ông, chúng ta sẽ cùng phân tích cách đối nhân xử thế của ông.
Nói về việc đối nhân xử thế, đây là chủ đề phức tạp nhất, vi diệu nhất, cao viễn thâm sâu nhất và uyên áo nhất trong xã hội loài người. Đối nhân xử thế đụng chạm tới hết thảy cổ kim trong ngoài, như quan hệ trong nước - quốc tế, quan hệ dân tộc, quan hệ thượng cấp - thuộc hạ, quan hệ gia đình, quan hệ thày – trò, quan hệ nam nữ v..v…, nói cho cùng cũng đều là đối nhân xử thế cả. Đối nhân xử thế có xử lý tốt thì quốc mới thái dân mới an, sự nghiệp có thành tựu, quốc phú dân cường; xử lý không tốt thì chuyện lớn là chiến hoạ theo đó mà khởi phát, dân không còn đường sống; chuyện nhỏ là gia đình bất hoà, láng giềng bốn bề bất an, gà chó chẳng yên.
Trong xã hội phong kiến mấy ngàn năm, đối nhân xử thế khó xử lý nhất là quan hệ quân thần. Cái lẽ làm bạn vua như cưỡi trên lưng hổ, vua muốn bề tôi phải chết, bề tôi không thể không chết, ấy là quan niệm luân lý thời phong kiến. Dù có công phò trợ lập quốc, một khi bị vua có ý hoài nghi hay mang hận thì chỉ nội trong một đêm, khắp nhà đầy cảnh chém giết, thậm chí còn chu di cửu tộc. Dang tướng Ngũ Tử Tư và Hàn Tín bị chém đầu, thậm chí bị diệt đến cả ba họ sau những công trạng hiển hách đó thôi. Vậy nên, sử sách đã viết nên câu bất hủ thế này: “tóm được thỏ rồi chó săn cũng bị làm thịt, thiên hạ đã định xong công thần không còn đường sống; chim bay hết thì cung nỏ cũng chẳng còn tác dụng; kẻ địch bại, mưu thần tất vong”. Ấy là lời sấm truyền cho quan hệ quân thần trong xã hội phong kiến.
Đứng trước cảnh nước nguy nan, Tào Tháo cảm nhận rõ thiên tử là một nhân vật nguy hiểm, nhưng cũng lại là nhân vật trọng yếu mà một quốc gia thống nhất cần phải có. Do vậy thoạt tiên ông đem vị tiểu hoàng đế mới vỏn vẹn có 16 tuổi Lưu Hiệp (sử gọi là Hán Hiến Đế) đưa đến căn cứ địa của mình là Hứa Xương, thực hiện chính sách “phụng mệnh Thiên tử để ra lệnh”, đây chính là điều mà hậu thế vẫn lưu truyền về cái gọi là: “kìm kẹp thiên tử, dùng danh nghĩa mà phát lệnh cho kẻ dưới”. Cách hành xử chính trị này của ông biến Thiên tử thành biểu trưng hình tượng của quốc gia, bản thân mình thì nắm đại quyền chính trị quân sự của triều đình, khó tránh khỏi điều tiếng mà lịch sử gán cho. Trong khi ấy thì, một đời Lưu Hiệp sống cảnh Thiên tử an bình, sống cho tới tận 15 năm sau khi Tào Tháo chết, chỉ năm tháng trước khi Gia Cát Lượng bệnh mà chết trong đoàn Ngũ trượng nguyên quân mới già lão mà tạ thế. Ý ở đó nên nhà lịch sử nổi tiếng của Đài Loan – Trung Quốc là Bách Dương mới gọi ông ta là “hoàng đế cuối triều may mắn nhất trong lịch sử Trung Quốc”.
Nhưng cách hành xử ấy của Tào Tháo đã uy hiếp nền chính trị của vương triều phong kiến. DO vậy từ triều Tống trở về sau, các hoàng đế trong lịch sử ít khi khen ngợi Tào Tháo, ngược lại, Quan Vũ được xem là hoá thân của con người trung nghĩa, được đưa lên tôn sùng tột bực. Vua Càn Long đời Thanh thậm chí còn phong Quan Vũ làm Quan Đế, lập đền thờ cúng ở khắp nơi. Có thể nói, việc này mang nhiều ý tứ tuyên truyền cho cương thường luân lý phong kiến. Đặc biệt là tới hoàng đế Càn Long triều Thanh, khi đặt cho Tào Tháo cái danh “thoán nghịch” (thoán đoạt phản nghịch), mặt khác lại xây Miếu Quan Đế cho Quan Vũ. Cách nhận định đánh giá kiểu quan phương chính thức này từ đó đã trở thành một giới luật chính trị vô hình của triều Thanh.
“Nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đến liền” là câu tục ngữ trong dân gian Trung Quốc. Câu nói này có thể hiểu rằng ông Tào Tháo này khắp cùng nam phụ lão ấu người Trung Quốc đều thuộc nằm lòng cả. Nhưng nhận thức dân gian đối với Tào Tháo lại chỉ gói gọn trong một đại từ “gian hùng một thời”. Nhận thức này chủ yếu đến từ “Tam quốc diễn nghĩa”. “Tam quốc diễn nghĩa” được xếp vào một trong bốn bộ danh tác của văn học cổ điển Trung Quốc cùng với “Hồng Lâu Mộng”, “Thuỷ Hử truyện”, “Tây Du ký”, trong đó có viết lại một câu bất hủ của Tào Tháo: “Thà ta phụ người trong thiên hạ, còn hơn để người trong thiên hạ phụ ta”. Như đổ thêm dầu vào lửa, hết lượt hý kịch, bình thư, điển nghệ suốt trong lịch sử đều dốc sức dặm mắm thêm muối, trên sân khẩu hý kịch Tào Tháo đã mang một bộ mặt trắng toát mắt kẻ chỉ, tượng trưng cho hình ảnh tên gian thần vạn phần gian ác.
Kinh kịch là quốc tuý của Trung Quốc, có thanh thế lớn cả ở trong và ngoài nước, vô số khách nước ngoài cũng chỉ vì kinh kịch mà tới Trung Quốc để tìm hiểu. Những vở trong Kinh kịch như “Xúc phóng Tào”, “Kích cổ giá Tào” và “Từ mẫu giá Tào”, trong vở “Thăm nhà” có vai ông cụ bà cụ, hát giọng hào sảng sôi nổi, uyển chuyển cảm động, làm cho người mê kịch nghe như ngây như dại, nhưng những tình tiết hư cấu này không chỉ vu hại Tào Tháo mà còn hạ thấp Tào Tháo cả về tài trí lẫn năng lực, dựng nên một hình tượng nghệ thuật đa nghi giảo quyệt, giết người không nương tay, ngang ngược bạo hành và tự tư một cách cực đoan.
Diện mạo chân thực của Tào Tháo trong lịch sử ra sao? Thiên đầu tiên trong “Tam quốc chí” dành hẳn làm truyện ký cho Tào Tháo, tức “Vũ Đế kỷ”, đây là truyện ký đầu tiên viết về Tào Tháo trong lịch sử, ước dài khoảng hơn một vạn ba ngàn chữ. Truyện ký ghi thuật lại một cách khách quan công quả của Tào Tháo trong mấy chục năm chinh chiến. Tào Tháo sinh vào năm Đông Hán Vĩnh Thọ nguyên niên (155), mất vào năm Kiến An thứ 25 (năm 220 SCN). Cùng năm, sau cái chết của Tào Tháo, con Tháo là Tào Phi lên kế ngôi Nguỵ Vương. Không lâu sau, Hán Hiến Đế Lưu Hiệp bị bức phải nhường ngôi, Tào Phi trở thành hoàng đế đầu tiên của vương triều Nguỵ, sử gọi là Nguỵ Văn Đế, truy phong cha mình Tào Tháo là Nguỵ Vũ Đế chứ bản thân Tào Tháo lúc sinh thời chưa hề được làm hoàng đế. Tác giả “Tam quốc chí” Trần Thọ gọi ông là: “con người phi thường, kiệt nhân xuất thế”.
Mao Trạch Đông lúc phê vào cuốn “Tư trị thông giám” đã viết, “Tào Tháo thống trị miền Bắc Trung Quốc, sáng lập nước Nguỵ, ông đã cải cách nhiều hủ hoá trong triều Đông Hán, áp chế cường hào, phát triển sản xuất, thực hiện chế độ tuân điền, còn đôn đốc khai hoang, cho thực thi pháp chế, đề xướng tằn tiện, biến một xã hội đã bị phá vỡ nghiêm trọng bắt đầu đi vào ổn định, khôi phục, phát triển. Ngần ấy chẳng lẽ không đủ để khẳng định, chẳng lẽ không phải là tài cán phi thường hay sao? Nói Tào Tháo là gian thần mặt trắng ấy là bản án oan mà quan niệm chính thống của nền chính trị phong kiến đã tạo tác nên, bản án này cần phải được lật lại.” Ông còn ngợi khen khí khái hùng tráng của thơ văn Tào Tháo, trong bài từ “Lương đào sa. Bắc Đới Hà” của mình ông đã viết “Nguỵ Vũ quất roi, Đông lâm Kiệt thạch có áng văn lưu truyền muôn thuở”, vun đắp hình tượng nhà chính trị vĩ đại Tào Tháo. Trong thư ông viết cho các con gái, ông cũng yêu cầu họ phải học thơ văn Tào Tháo để nâng cao tu dưỡng văn học của mình. Trong bài thơ nổi tiếng “Quy tuy thọ” (rùa tuy thọ), Tào Tháo dùng những ngôn từ hùng tráng “tuổi cao tráng chí càng cao, chí ngoài ngàn dặm. Kẻ dạn dày công trạng, cuối đời hùng tâm tráng chí vẫn còn nguyên” để tỏ rõ thế thái của người dù già lão vẫn tráng kiện, câu nói ấy đã trở thành danh ngôn lưu truyền thiên cổ.
Ngày 23 tháng 3 năm 1959, tờ “Nhân dân nhật báo” đã đăng tải bài viết của Quách Mạt Nhược, viện trưởng Viện khoa học Trung Quốc với đầu đề “thay Tào Tháo lật lại hồ sơ”, trong đó có một tiêu đề nhỏ viết rằng: Tào Tháo đã phải làm tấm gương của kẻ phản diện hơn một ngàn năm đầy oan uổng, ngày hôm nay, phải thay ông khôi phục danh dự. Nhà lịch sử nổi tiếng Tiễn Bách Tán cũng đã viết một bài trên tạp chí “Sử học” lúc bấy giờ với tiêu đề “Phải khôi phục danh dự cho Tào Tháo”.
Kìm kẹp Thiên tử, dùng danh nghĩa mà hạ lệnh cho kẻ dưới: bậc đế vương thời hậu thế khó xét cho xuôi
Có thể nói, tài trí của Tào Tháo vượt xa Tôn Quyền, Lưu Bị và Gia Cát Lượng, không hổ danh là nhất đại anh hùng giữa thời loạn thế. Những thành tựu trác việt của ông trong tất cả các mặt chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn học … có công lao không thể phủ nhận. Đặc biệt trong chính sách tôn trọng trí thức và trọng dụng nhân tài, những cống hiến của ông xứng đáng được học hỏi, mang ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Lại nhờ sức hút tỏa ra từ nhân vật này mới có thể khiến hàng trăm văn nhân võ tướng biết tên biết mặt của thời bấy giờ đều tới quy tụ dưới trướng ông, chúng ta sẽ cùng phân tích cách đối nhân xử thế của ông.
Nói về việc đối nhân xử thế, đây là chủ đề phức tạp nhất, vi diệu nhất, cao viễn thâm sâu nhất và uyên áo nhất trong xã hội loài người. Đối nhân xử thế đụng chạm tới hết thảy cổ kim trong ngoài, như quan hệ trong nước - quốc tế, quan hệ dân tộc, quan hệ thượng cấp - thuộc hạ, quan hệ gia đình, quan hệ thày – trò, quan hệ nam nữ v..v…, nói cho cùng cũng đều là đối nhân xử thế cả. Đối nhân xử thế có xử lý tốt thì quốc mới thái dân mới an, sự nghiệp có thành tựu, quốc phú dân cường; xử lý không tốt thì chuyện lớn là chiến hoạ theo đó mà khởi phát, dân không còn đường sống; chuyện nhỏ là gia đình bất hoà, láng giềng bốn bề bất an, gà chó chẳng yên.
Trong xã hội phong kiến mấy ngàn năm, đối nhân xử thế khó xử lý nhất là quan hệ quân thần. Cái lẽ làm bạn vua như cưỡi trên lưng hổ, vua muốn bề tôi phải chết, bề tôi không thể không chết, ấy là quan niệm luân lý thời phong kiến. Dù có công phò trợ lập quốc, một khi bị vua có ý hoài nghi hay mang hận thì chỉ nội trong một đêm, khắp nhà đầy cảnh chém giết, thậm chí còn chu di cửu tộc. Dang tướng Ngũ Tử Tư và Hàn Tín bị chém đầu, thậm chí bị diệt đến cả ba họ sau những công trạng hiển hách đó thôi. Vậy nên, sử sách đã viết nên câu bất hủ thế này: “tóm được thỏ rồi chó săn cũng bị làm thịt, thiên hạ đã định xong công thần không còn đường sống; chim bay hết thì cung nỏ cũng chẳng còn tác dụng; kẻ địch bại, mưu thần tất vong”. Ấy là lời sấm truyền cho quan hệ quân thần trong xã hội phong kiến.
Đứng trước cảnh nước nguy nan, Tào Tháo cảm nhận rõ thiên tử là một nhân vật nguy hiểm, nhưng cũng lại là nhân vật trọng yếu mà một quốc gia thống nhất cần phải có. Do vậy thoạt tiên ông đem vị tiểu hoàng đế mới vỏn vẹn có 16 tuổi Lưu Hiệp (sử gọi là Hán Hiến Đế) đưa đến căn cứ địa của mình là Hứa Xương, thực hiện chính sách “phụng mệnh Thiên tử để ra lệnh”, đây chính là điều mà hậu thế vẫn lưu truyền về cái gọi là: “kìm kẹp thiên tử, dùng danh nghĩa mà phát lệnh cho kẻ dưới”. Cách hành xử chính trị này của ông biến Thiên tử thành biểu trưng hình tượng của quốc gia, bản thân mình thì nắm đại quyền chính trị quân sự của triều đình, khó tránh khỏi điều tiếng mà lịch sử gán cho. Trong khi ấy thì, một đời Lưu Hiệp sống cảnh Thiên tử an bình, sống cho tới tận 15 năm sau khi Tào Tháo chết, chỉ năm tháng trước khi Gia Cát Lượng bệnh mà chết trong đoàn Ngũ trượng nguyên quân mới già lão mà tạ thế. Ý ở đó nên nhà lịch sử nổi tiếng của Đài Loan – Trung Quốc là Bách Dương mới gọi ông ta là “hoàng đế cuối triều may mắn nhất trong lịch sử Trung Quốc”.
Nhưng cách hành xử ấy của Tào Tháo đã uy hiếp nền chính trị của vương triều phong kiến. DO vậy từ triều Tống trở về sau, các hoàng đế trong lịch sử ít khi khen ngợi Tào Tháo, ngược lại, Quan Vũ được xem là hoá thân của con người trung nghĩa, được đưa lên tôn sùng tột bực. Vua Càn Long đời Thanh thậm chí còn phong Quan Vũ làm Quan Đế, lập đền thờ cúng ở khắp nơi. Có thể nói, việc này mang nhiều ý tứ tuyên truyền cho cương thường luân lý phong kiến. Đặc biệt là tới hoàng đế Càn Long triều Thanh, khi đặt cho Tào Tháo cái danh “thoán nghịch” (thoán đoạt phản nghịch), mặt khác lại xây Miếu Quan Đế cho Quan Vũ. Cách nhận định đánh giá kiểu quan phương chính thức này từ đó đã trở thành một giới luật chính trị vô hình của triều Thanh.
Tường Châu (báo điện tử VietNamNet - theo Thanh niên báo)
Friday, December 10, 2010
Cảnh chiều hôm
-
12) Những tổ chức của linh hồn 12.1) Sự phân chia linh hồn - Vào lúc bắt đầu, chỉ có Thượng Đế/Nữ Thượng Đế/Tất Cả Là Như ...
-
8) Hàn gắn sáu thân thể thấp - Sáu khía cạnh thấp của một người gồm các thân thể vật lý, tình cảm, trí, astral, ether và nh...
-
Đây không hẳn là câu chuyện hoàn chỉnh với đầy đủ những tình tiết hồi hộp hấp dẫn. Đó chỉ là hình ảnh của một cô gái đang khóc trên đường...


