I. Phần một
1) Khái lược toát yếu người đi trên đường đạo
- Người đi trên con đường đạo phải hướng toàn bộ cuộc đời mình về hai mục đích chính:
+ Phát triển tánh tình (thực hành tu tập các đức hạnh tốt).
+ Phụng sự nhân loại.
- Người đi trên con đường đạo phải quán tưởng và an trú trong các siêu tâm thức đồng nghĩa với việc từ bỏ việc quán tưởng và an trú bản thân trong các tâm thức của phàm nhơn (không quán tưởng và an trú trong tâm trí hạ trí, xúc cảm và thân xác mình).
- Người đi trên đường đạo vì quán tưởng và an trú trong các siêu tâm thức nên tư tưởng, ý niệm, tình cảm đều hướng về chúng sinh, sự tiến hoá chung của chúng sinh.
2) Người đi trên đường đạo và Chân Sư
- Người đi trên đường đạo dù phải hay chưa phải đệ tử của Chân Sư đều cần làm những công việc phụng sự thế gian như các Đấng Chân Sư đang đảm nhiệm.
- Là đệ tử của Chân Sư sẽ được ân huệ có sự dìu dắt, khích lệ của Chân Sư.
- Chưa là đệ tử đến một lúc sẽ được các ngài chú ý đến và thu nhận.
3) Những chướng ngại của người đi trên đường đạo
- Chướng ngại do thói kêu căng, ngạo mạn.
- Chướng ngại do tính cách nóng nảy.
- Chướng ngại do tính hay thọc mạch.
- Chướng ngại do tính hay giận hờn.
- Chướng ngại do sự tiến hoá chưa đủ.
4) Người đi trên đường đạo cần phải có lòng trung thành tuyệt đối
- Người đi trên đường đạo cần hiến dâng sự thành tâm thành ý cùng tín niệm tuyệt đối với con đường đạo mình đã chọn.
- Người đi trên đường đạo đã sẵn sàng cho việc đặt phụng sự làm mục đích cũng như là tình yêu, mong ước lớn nhất của kiếp sống này.
5) Thời kỳ dự bị của người đi trên đường đạo
- Khi người đi trên đường đạo nhận được sự chú ý muốn thâu nhận làm đệ tử của Chân Sư thì trước tiên người đó được thâu làm đệ tự dự bị.
- Chân Sư tạo ra hình nộm các thể (Vía, Hạ Trí, Thượng Trí) của người đệ tử từ các chất Thượng Thanh Khí, Hạ Thanh Khí, Thanh Khí, Dĩ Thái Hồng Trần).
- Hình nộm này liên kết với người đệ tử dự bị bởi một sợi dây năng lượng từ điển.
- Thông qua hình nộm này, Chân Sư sẽ thấy được sự tiến hoá đi lên hay đi xuống của người đệ tử dự bị trong một thời gian dài để quyết định thu nhận thành đệ tử chính thức hay không.
- Những đệ tử dự bị cần phải rèn luyện các hạnh tốt nghiêm ngặt; tâm trí không phải nghĩ đến những gì bản thân muốn làm mà là những gì có thể làm cho người khác; phàm nhơn của đệ tử dự bị phải quên đi mình mà nghĩ đến người khác để hợp nhất dần dần với Chơn Nhơn.
- Những đệ tử dự bị cần phải dành toàn bộ thời gian của mình để phụng sự và dọn mình; phải để bản thân trở thành một nguồn ân huệ cho những sinh mệnh nào có mối liên hệ với mình.
6) Đệ tử dự bị thành đệ tử chính thức của Chân Sư
- Đệ tử chính thức của Chân Sư cần được trình diện trước Đức Văn Minh Đại Đế (Mahachohan) để được chính thức nhìn nhận và ghi tên vào Sổ Vàng bất diệt.
- Người đệ tử chính thức sẽ được hợp nhất với Chân Sư.
- Chân Sư sẽ hoà lẫn hào quang của ngài với hào quang của đệ tử của mình do đó thần lực của Chân Sư sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đệ tử của ngài và ngược lại, những đức tánh đặc biệt của người đệ tử thu hoạch được cũng kích động các trung tâm tương tự trong hào quang của Chân Sư. Sau quá trình hợp nhất hào quang các thể thì rung động của các thể của đệ tử từ đó sẽ cộng hưởng với tần số với rung động của Chân Sư. Lúc đầu tần số đệ tử thấp hơn nhiều so với Chân Sư nhưng sẽ được nâng cao lần lần.
- Đệ tử chính thức của Chân Sư sẽ trở thành một đường vận hà năng lượng của Chân Sư. Thông qua đường vận hà này, Chân Sư ban phát thần lực đến thế gian. Cũng thông qua đệ tử, Chân Sư có thể nghe, thấy, nhìn, cảm giác xuyên qua đệ tử. Những sự vật, sự việc mà đệ tử đã kinh nghiệm được sẽ tái hiện lại trong tâm thức của Chân Sư khi ngài chú ý đến sự vật, sự việc đó.
- Sự hợp nhất giữa Chân Sư và đệ tử có thể bị gián đoạn khi Chân Sư tạo ra một lớp màn ngăn cách giữa Chân Sư và đệ tử nếu có sự xáo trộn nào đó mãnh liệt nơi các thể của đệ tử ảnh hưởng đến công việc của Chân Sư.
- Đệ tử của Chân Sư phải là người mà chơn nhơn làm chủ phàm nhơn; phải sống một đời sống giản dị và có một ý chí vững vàng không gì lay chuyển được để đi trọn con đường đạo của mình.
7) Sự chuyển di thần lực từ Chân Sư đến đệ tử
- Đệ tử Chân Sư là người có khả năng chuyển hoá sức mạnh bên trong ra bên ngoài. Nghĩa là tập trung hướng sự chú ý và tư tưởng thiện lành của mình đến các sinh linh khác để ban phát nguồn năng lượng tốt đẹp cho những sinh linh đó.
- Đệ tử Chân Sư có sự liên kết năng lượng với Chân Sư thông qua con đường vận hà. Khi đệ tử hướng tư tưởng đến Chân Sư, các luồng năng lượng thần lực sẽ được chuyển từ Chân Sư đến đệ tử qua con đường vận hà và sau đó đến các đối tượng chúng sinh mà Chân Sư cần ban ân huệ.
- Khi đệ tử có thể tự mình thực hiện công việc truyền năng lượng thần lực đến đối tượng chúng sinh cần ban ân huệ thì đệ tử sẽ nhận được năng lượng thần lực đó từ Chân Sư, sau đó đệ tử ban phát đến chúng sinh khác thông qua các tư tưởng thiện lành, tình yêu thương đối với các sinh linh trong các cõi giới đệ tử tương tác.
- Ngoài ban ân huệ là các luồng năng lượng thần lực, Chân Sư cũng gửi thông điệp đến các đối tượng chúng sinh khác thông qua đệ tử.
- Đệ tử chính thức có thể nhờ vào việc luôn đặt tư tưởng của mình bên cạnh tư tưởng của Chân Sư để kiểm điểm. Điều này sẽ giúp đệ tử tiến bộ mau chóng. Người đệ tử có thể thâm nhập vào tâm thức của Chân Sư trong cơn thiền định để có thể tạo ra được sự cộng hưởng cao nhất với tâm thức của Chân Sư. Từ đó sẽ có những tư tưởng, quan niệm, qua điểm gần với Chân Sư.
- Đệ tử của Chân Sư phải có ý chí kiên cường, vững vàng và kiên trì vô cùng vô tận. Dù cho có sự vấp ngã hàng ngàn, hàng vạn lần vẫn sẽ tiếp tục đứng lên và tiến về phía trước. Không dao động, không nản lòng, không từ bỏ.
8) Đệ tử và thời kỳ chuẩn bị Điểm Đạo
- Khi Chân Sư nhận thấy đệ tử của mình đáng được điểm đạo lần thứ nhất, ngài sẽ thông báo điều này và giới thiệu đệ tử với Quần Tiên Hội (Thánh Đoàn).
- Một đệ tử được điểm đạo phải do sự đề nghị và ủng hộ của ít nhất hai nhân viên cao cấp trong Quần Tiên Hội (hai vị đã đắc quả Asekha).
- Những đức tánh cần thiết của người đệ tử cần đạt được trong thời kỳ chuẩn bị Điểm Đạo:
+ Đức tánh Phân Biện: nhận thức được chân và giả.
+ Đức tánh Vô Dục: không tham, sân, si.
+ Đức tánh Hạnh Kiểm tốt: chăm chỉ tu tập lập hạnh.
+ Đức yên tĩnh (sự thanh tịnh của cái Trí): sự tự chủ về tư tưởng, tâm trí; tư tưởng, tâm trí được kiểm soát, quản lý bởi Ý Chí.
+ Demo: sự tự chủ trong lời nói và hành động.
+ Đức khoan dung: sự nhân từ, sự độc lập trong tư tưởng và hành động.
+ Đức kiên nhẫn: sự chịu đựng một cách vui vẻ bất kỳ điều gì do nhân duyên, nghiệp quả đưa đến.
+ Sự kiên tâm, bền chí: sự tập trung mọi cố gắng vào một mục đích, đường lối duy nhất.
+ Đức tin: tin tưởng mình, tin tưởng Chân Sư và Thượng Đế.
+ Đức mong muốn giải thoát: sự mong muốn giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
9) Cuộc Điểm Đạo đầu tiên của người đệ tử
- Những cuộc Điểm Đạo trong một Hành Tinh đều do một đấng Điểm Đạo duy nhất đảm nhiệm.
- Những cuộc Điểm Đạo thứ nhất, thứ nhì có thể có các vị Chân Sư thay mặc cho Đấng Điểm Đạo chủ trì nhưng các vị Chân Sư cần kêu gọi đến Đấng Điểm Đạo vào thời điểm mà quả vị được ban cho người đệ tử.
- Sự hợp nhất tâm thức đó là sự cộng hưởng diễn ra với các tần số ứng với các bội số khác nhau.
- Sự cộng hưởng tâm thức này diễn ra càng mạnh mẽ thì tâm thức của Tân Đạo Đồ càng rộng mở, năng lực nhận thức tăng trưởng mạnh mẽ và vì sự hợp nhất tâm thức này mà Tân Đạo Đồ cần phải giữ cho tâm thức của mình được thanh tĩnh, tinh khiết, không xáo trộn. Việc xáo trộn tâm thức của Tân Đạo Đồ sẽ ảnh hưởng đến biển tâm thức Quần Tiên Hội. Do đó, cũng ảnh hưởng chung đến công việc của các Đấng Cao Cả đang thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Vì hợp nhất với tâm thức của Quần Tiên Hội nên người đệ tử có thể ban rải ân huệ của Quần Tiên Hội đến những đối tượng cần ban rải. Nguồn thần lực của Quần Tiên Hội giống như của Chân Sư sẽ đi đến người đệ tử như một điểm trong các con đường vận hà năng lượng thần lực và người đệ tử sẽ ban rải thần lực này đến các đối tượng được nhận ân huệ. Tuỳ theo sự tiến hoá và đức tin của người đệ tử mà nguồn thần lực ấy đến với mức độ ít nhiều khác nhau.
Tâm thức của Quần Tiên Hội là một điều huyền diệu khôn tả. Nó giống như một biển đại dương yên lặng, sáng láng, và hợp nhứt một cách tuyệt diệu đến nỗi một gợn sóng nhỏ nhứt trong biển tâm thức đó tức khắc lan rộng cùng khắp nơi trong chớp nhoáng đến chỗ tận cùng. Tuy nhiên đối với mỗi nhân viên Quần Tiên Hội, thì nó hình như là một tâm thức riêng biệt cá nhân, tuy rằng nó có bao hàm một mãnh lực, một sức mạnh và một sự minh triết, mà không một tâm thức riêng của một người nào có thể có được.
- Quần Tiên Hội hợp nhất với Đấng Ngọc Đế. Tâm thức Quần Tiên Hội hợp nhất với tâm thức của ngài.
- Khi cuộc Điểm Đạo được Đấng Điểm Đạo và Đức Ngọc Đế đồng thuận, một luồng từ điển được phát ra từ Đức Ngọc Đế đến trái tim Đấng Điểm Đạo và sau đó đến trái tim người đệ tử. Dưới ảnh hưởng của luồng từ điển, Ngôi Sao Bạc của tâm thức, tượng trưng cho Chơn Thần của người đệ tử sẽ nở lớn, chói sáng ngời cho đến khi vượt khỏi thể Thượng Trí của người đệ tử và trong một lúc, Chơn Thần người đệ tử (là các điểm sáng bên trong các hạt nguyên tử Trường Tồn trong thể Thượng Trí phát sáng rực rỡ) sẽ hỗn hợp với Chơn Nhơn của mình. Sự hỗn hợp (hợp nhất) này sẽ là xảy ra vĩnh viển khi người đệ tử đạt quả vị Chơn Tiên. Thể Vía của người đệ tử cũng được cũng được củng cố cho vững vàng, kiên cố hơn và làm cho có rung động nhịp nhàng cùng với rung động thể Vía của Đấng Điểm Đạo.
- Người đệ tử tại thời điểm được Điểm Đạo đó cũng nhận được ân huệ từ Đức Phật Thích Ca Như Lai, Đức Bàn Cổ, Đức Văn Minh Đại Đế...
- Sau cùng Đấng Điểm Đạo ban Chìa Khoá Hiểu Biết cho người đệ tử. Người Tân Đạo Đồ cũng sẽ sớm được chăm sóc dạy bảo để sớm luyện thể Bồ Đề (Kim Thân) bởi các vị Cao Đồ khác của Chân Sư. Người Tân Đạo đồ cuối cùng ban ân huệ nhận được của mình trong cuộc Điểm Đạo xuống cho chúng sinh vạn vật.
10) Sự thất bại của người đệ tử sau khi được Điểm Đạo
- Có những đệ tử khi mới đặt chân vào Đường Đạo thì đã thụt lùi do không thể đảm đương được trách nhiệm hoặc không thể tiến lên thêm được nữa. Đệ tử được Điểm Đạo đã thất bại.
- Khi sự thất bại xảy ra, có gợn sóng đau thương làm rung động biển tâm thức Quần Tiên Hội vì khi đó có sự chia tách xảy ra đối với sự hợp nhất tâm thức của người đệ tử và Quần Tiên Hội.
- Người đệ tử đã được Điểm Đạo cần phải luôn luôn giữ mình tinh tấn trên con Đường Đạo để quên mình phụng sự chúng sinh. Người đệ tử sẽ có được sức mạnh, quyền năng lớn nhờ sự hợp nhất với tâm thức Quần Tiên Hội nhưng vì có thêm được sức mạnh đó mà trách nhiệm của người đệ tử cũng lớn hơn, sự phụng sự chúng sinh vì thế cũng nhiều hơn.
- Người đệ tử đã được Điểm Đạo cần ghi nhớ rằng, các nghiệp quả gây ra khi là một đệ tử đã gia nhập vào Quần Tiên Hội sẽ nặng nề hơn nhiều so với khi chưa gia nhập.
11) Địa vị "Con của Đức Thầy"
- Khi người đệ tử gần tiến đến thời điểm Điểm Đạo thì sự hợp nhất giữa Chân Sư và đệ tử đó càng trở nên chặc chẽ hơn rất nhiều. Lúc ấy không chỉ thể Hạ Trí mà cả Chơn Nhơn trong thể Thượng Trí của người đệ tử cũng được bao phủ bởi thể Thượng Trí của Chân Sư.
- Vì sự hợp nhất mật thiết này mà người đệ tử có sức mạnh, quyền năng lớn hơn. Từ đó, sự ban ân huệ của người đệ tử cho chúng sinh thế gian cũng vì thế mà hữu ích, lớn lao hơn.
- Niềm vui, hạnh phúc mà bất kỳ nơi đâu người đệ tử đi đến cũng sẽ vì thế mà lớn lao hơn.
12) Các cuộc Điểm Đạo thứ hai, thứ ba
- Cuộc Điểm Đạo thứ hai, người đệ tử chứng quả Tu Đà Hàm.
- Cuộc Điểm Đạo thứ ba, người đệ tử chứng quả A Na Hàm.
- Người đệ tử đạt được cuộc Điểm Đạo thứ hai phải dứt bỏ ba điều chướng ngại sau đây:
+ Sự ảo tưởng về bản ngã
+ Sự nghi ngờ
+ Sự mê tín
Tất cả những chướng ngại này đều được vượt qua dựa trên sự tăng trưởng về hiểu biết và nhận thức.
- Trong mỗi giai đoạn trên Đường Đạo đều chia làm bốn thời kỳ:
+ Thời kỳ cố gắng loại trừ các chướng ngại
+ Thời kỳ kết quả - người đi trên Đường Đạo thấy rằng những cố gắng của mình đêm lại kết quả
+ Thời kỳ viên mãn - người đi trên Đường Đạo đạt được kết quả trọn vẹn
+ Thời kỳ bước qua cuộc Điểm Đạo kế tiếp
- Cuộc Điểm Đạo thứ hai và thứ ba về cơ bản cũng giống như cuộc điểm đạo lần thứ nhất. Với sự ban ân huệ của các Đấng Cao Cả sau cuộc điểm đạo, người đệ tử sẽ có các thể Vía, Hạ Trí, Thượng Trí nảy nở và sáng rực rỡ hơn nhiều. Thông qua các thể đã trở nên tiến hoá hơn nhiều này, quyền năng trực giác hay các khuôn mẫu năng lượng sự sống ở cõi giới Bồ Đề có thể đi xuyên qua, đến não bộ của người đệ tử và hướng dẫn cách sống, hành xử của người đệ tử ở cõi Hồng Trần.
- Cuộc Điểm Đạo lần thứ hai giúp người đệ tử trực tiếp mở Trí một cách mau chóng. Ở giai đoạn này, người đệ tử tập sử dụng thể Vía tạm - thể được tạo ra bởi người đã hoạt động được (ý thức được) bằng thể Trí của mình. Người đệ tử khi đã có ý thức và hoạt động độc lập ở cõi Thượng Giới, có thể sử dụng thể Vía tạm khi muốn xuất hiện ở cõi Trung Giới để tiếp xúc với các sinh mệnh ở cõi này.
- Thời kỳ tu luyện sau cuộc Điểm Đạo lần thứ hai phần nhiều là giai đoạn nguy hiểm nhất trên Đường Đạo. Trong giai đoạn này, sự vấp ngã thường do thói kêu căng gây nên. Và điều này thường rất khó sửa đổi. Do đó, người đệ tử trong giai đoạn này cần phải có sự đề phòng cẩn thận, đừng để bản thân rơi vào thói kêu căng, ích kỷ và thành kiến.
- Trong giai đoạn này, người đệ tử không còn cần phải diệt trừ chướng ngại nào nữa nên đây là thời kỳ người đệ tử tiến triển rất nhanh về trí tuệ và tâm linh.
13) Phàm Nhơn
- Tâm thức Phàm Nhơn là điểm tâm thức có hình thức biểu lộ như ngôi sao có ánh sáng chói rạng, được cấu tạo thành bởi năng lượng sự sống tồn tại bên trong ba nguyên tử trường tồn là nguyên tử trường tồn thể Xác, thể Vía và thể Trí.
- Điểm tâm thức Phàm Nhơn này luôn luân chuyển bên trong con người. Vị trí của ngôi sao được trụ ở bất kỳ đâu trong bảy bì huyệt chánh (bảy luân xa) trong cơ thể con người. Mỗi người có thể lựa chọn vị trí của ngôi sao tuỳ vào Cung đặc biệt của họ và cũng tuỳ nơi Đại chủng (giống dân Chánh) hay Chi chủng (giống dân Phụ) của họ.
- Ngôi sao tâm thức Phàm Nhơn là đại diện của Chơn Nhơn ở Phàm Giới (các Cõi hạ Giới). Khi ngôi sao tâm thức Phàm Nhơn biểu lộ qua các Hạ Thể thì toàn bộ sự kết hợp lúc này của tâm thức Phàm Nhơn và các Hạ Thể được gọi là Phàm Nhơn.
14) Sự giao tiếp giữa Chơn Nhơn và Phàm Nhơn
- Giữa Chơn Nhơn và Phàm Nhơn có đường liên kết năng lượng - đó là một đường vận hà để cho năng lượng sự sống (thần lực) được chuyển từ Chơn Nhơn đến Phàm Nhơn. Con đường vận hà đó có tên gọi là Antahkarana hay Sinh Mệnh tuyến.
- Trong quá trình tiến hoá, Sinh Mệnh tuyến này ngày càng đường khai mở và do đó, thần lực Chơn Nhơn truyền xuống Chơn Nhơn ngày càng nhiều. Sự biểu lộ của Chơn Nhơn vì thế cũng ngày càng rõ rệt nơi Phàm Nhơn, đến một thời điểm nào đó sẽ chủ trị luôn Phàm Nhơn. Bằng cách đó, Phàm Nhơn sẽ không còn có một tư tưởng hay ý chí riêng biệt nào, mà chỉ có thể là một phản ảnh của Chơn Nhơn ở Cõi Hạ Giới. Nhân loại hiện tại đang ở giữa hai thái cực này hoặc là chưa giao tiếp với Chơn Nhơn hoặc là giao tiếp hoàn toàn.
- Chơn Nhơn cũng như Phàm Nhơn, cũng đang trên con đường tiến hoá riêng. Cũng như Phàm Nhơn, tiến hoá thông qua việc cố gắng biểu lộ Chơn Nhơn một cách toàn vẹn hơn thì Chơn Nhơn cũng vậy, tiến hoá thông qua việc cố gắng biểu lộ Chơn Thần một cách toàn vẹn hơn.
15) Chơn Nhơn và cõi giới siêu việt
- Tâm thức Chơn Nhơn được biểu lộ qua thể Thượng Trí. Tâm thức Chơn Nhơn càng tiến hoá, càng có nhiều đức tính tốt, những đức tính này có thể tìm thấy những rung động tương đương trong chất của Thể Thượng Trí. Những màu sắc biểu lộ những đức tánh đó mới bắt đầu xuất hiện và Thể Thượng Trí, thay vì trống rỗng, lại chứa đầy sức sống dồi dào. Bấy giờ, thì Chơn Nhơn có thể tự biểu lộ thêm nhiều hơn xuyên qua Thể ấy và bởi đó Thể Thượng Trí càng ngày càng nở lớn thêm gấp bội. Nó vẫn bành trướng thêm mãi cho đến khi đương sự có thể bao trùm hàng trăm, chí đến hàng ngàn người trong vòng hào quang của mình, và như thế, y tạo nên một ảnh hưởng tốt lành trên một quy mô rộng lớn.
- Sự tiến bộ trong quá trình tiến hoá này của Chơn Nhơn giúp cho người đó sống một cuộc đời giữa các đấng Vô Sắc Thiên Thần, giữa các hàng Thiên Thần cao cả ở một cõi giới siêu việt. Giữa các đấng cao cả đó, tư tưởng không còn tượng hình và phiêu bạt mà chúng di chuyển mau như chớp từ người nọ sang người kia.
- Ở cõi giới siêu việt này, không có sắc tướng, chỉ có tâm thức; ở cõi giới này, nhân quả xảy ra liền nhau như hình với bóng; ở cõi giới này, không có cái cụ thể, chi tiết chỉ có cái trừu tượng, thuần tuý và do đó, đạt được sự nhận thức, hiểu biết một cách toàn vẹn; ở cõi giới này, tất cả những kiến thức, hiểu biết cụ thể sẽ được trình bày ở mức trừu tượng, khái quát nhất dưới dạng chỉ một hoặc vài ý niệm. Đây là cách, nội dung mà các Chơn Nhơn giao tiếp với nhau.
16) Sự chú trọng của Chơn Nhơn đối với Phàm Nhơn
- Chơn Nhơn tham gia vào các hoạt động riêng trên cõi riêng của mình cũng như Phàm Nhơn hoạt động trên cõi Hồng Trần. Thường Chơn Nhơn ít chú ý đến các hoạt động của Phàm Nhơn chỉ khi có một số hoạt động nào đó quan trọng khiến Chơn Nhơn chú ý một lúc để thu nhận một vài kinh nghiệm nào đó.
- Do đó, để cho Chơn Nhơn chú ý đến mình, Phàm Nhơn nên chú ý đến Chơn Nhơn và làm sao cho đời sống ở cõi Hồng Trần hữu ích đối với Chơn Nhơn.
- Chơn Nhơn biết rằng, sự tiến hoá của mình chỉ có một phần được thực hiện thông qua Phàm Nhơn. Vì thế, Chơn Nhơn đôi khi sẽ chú ý và chăm sóc Phàm Nhơn của mình.
- Phàm Nhơn phải chăm sóc, tu dưỡng tâm thức cùng với các thể Xác, Vía, Trí của mình để càng tiến hoá lên cao hơn. Nhờ vậy mà có sự kết nối ngày càng chặc chẽ hơn với Chơn Nhơn. Nếu không, quá trình kết nối và hợp nhất này sẽ kéo dài qua không biết bao nhiêu kiếp mới thực hiện được.
- Khi một Chơn Nhơn quyết định chuyển toàn lực của nó vào Phàm Nhơn, thì có thể đem lại một sự thay đổi rất lớn. Đặc biệt khi Chơn Nhơn đã tiến hoá cao, có đủ sức mạnh và Phàm Nhơn cố gắng để biểu lộ tốt nhất cho của Chơn Nhơn.
17) Thái độ của Phàm Nhơn
- Nếu Phàm Nhơn càng có thái độ đồng hoá với Chơn Nhơn thì càng quan niệm cuộc đời một cách sáng suốt và lành mạnh hơn.
- Phàm Nhơn nên có bổn phận cởi mở đón nhận những ảnh hưởng của Chơn Nhơn, phải vươn mình để tiến đến Chơn Nhơn cũng như tạo ra trong Phàm Nhơn những rung động hữu ích đối với Chơn Nhơn.
- Phàm Nhơn cần tu dưỡng, thực hành các đức hạnh tốt, thanh cao để hữu ích cho Chơn Nhơn.
- Khi Chơn Nhơn tự cố gắng để ảnh hưởng đến Phàm Nhơn thì Phàm Nhơn phải sốt sắng đón tiếp và mau chóng tuân theo sự chủ trị của Chơn Nhơn.
18) Thực hiện sự hợp nhất
- Tâm thức Chơn Nhơn trong khi sinh hoạt trong thể Thượng Trí đã nhận thức có các tâm thức Thiêng Liêng cao hơn bên trên mình, cũng như tâm thức Phàm Nhơn nhận thức về tâm thức Chơn Nhơn vậy.
- Trên cõi giới Niết Bàn (Bồ Đề), tâm thức Thiêng Liêng của các Chơn Nhơn sẽ hợp nhất với nhau, cũng như sự hợp nhất với tâm thức Chân Sư, Quần Tiên Hội và do đó, không còn ý niệm về sự cách biệt giữa Người và Ta nữa tuy rằng ý niệm về cá tính riêng biệt vẫn không mất đi.
- Sự cộng hưởng gần như toàn bộ (hợp nhất hoàn toàn) tâm thức của một người với những người khác ở cõi Bồ Đề khiến cho tâm thức của người đó mở rộng ra, đồng hoá hay bao gồm tâm thức của những người khác. Như vậy tâm thức của mỗi người đều thuộc về hay là một khía cạnh của một tâm thức rộng lớn hơn. Tâm thức rộng lớn này thuộc về một đấng Cao Cả nào đó.
- Khi tâm thức Bồ Đề đủ phát triển và tâm thức Phàm Nhơn đủ tiến hoá để chịu sự chủ trị của tâm thức Bồ Đề, lúc đó, tâm thức Bồ Đề được biểu lộ thông qua bộ não của con người, việc biểu lộ này cũng sẽ ghi lại các dấu ấn bên trong não bộ của người đó. Đến lúc này, tâm thức Bồ Đề sẽ đem lại sự thay đổi cũng như các giá trị mới cho suy nghĩ, hành động của con người trong đời sống hàng ngày.
- Sự hợp nhất và ý thức toàn vẹn về sự hợp nhất tâm thức này chỉ sẽ diễn ra vào giai đoạn sau cùng tức là ở vào cảnh giới cao nhất của cõi giới Bồ Đề.
19) Những cuộc điểm đạo cao hơn
- Trong cuộc Điểm Đạo lần thứ tư, người đệ tử sẽ hoàn toàn bị cô lập một mình và cảm giác tất cả người trên thế gian đều quay lưng lại với mình. Người đạo đồ phải kinh nghiệm một trạng thái Achivi (Ngục A Tỳ) - là trạng thái vô âm ba, không có sự rung động. Ở trạng thái này, người đạo đồ bị cô lập trong không gian và bị cắt đứt mọi liên lạc với sự sống bên ngoài kể cả với Thượng Đế.
- Những sự khổ đau kỳ lạ luôn đi kèm với cuộc Điểm Đạo lần thứ tư này. Mục đích là để thanh toán tất cả những nghiệp quả còn sót lại.
- Khi người đạo đồ vượt qua được cuộc Điểm Đạo lần thứ tư, thì có nghĩa là đã hoàn toàn chiến thắng tất cả những phiền não, đau khổ, thử thách, chướng ngại và cám dỗ để đạt đến sự vinh quang trường cửu muôn đời.
- Khi người đạo đồ vượt qua cuộc Điểm Đạo lần thứ tư, đạt tới trạng thái Niết Bàn, đạt được quả vị A Lan Hán. Điều này có nghĩa là người đạo đồ đã khai mở tâm thức Bồ Đề trong khi vẫn hoạt động trong xác thân. Khi người đạo đồ rời khỏi thể Xác trong giấc ngủ hay trong cơn đại định thì lập tức bước vào cõi giới Niết Bàn.
- Khi người đạo đồ khai mở (thức tỉnh) trên cõi giới cao hơn cõi giới mình ý thức trước đó, sẽ nhận thấy sự sống ở cõi giới mới vô cùng linh động, nhiệm màu hơn rất nhiều.
- Toàn bộ sự sống trong vũ trụ là một biển năng lượng mênh mông vô tận. Trong biển năng lượng liên tục nối tiếp nhau đó, có các điểm năng lượng - là các trung tâm thu nhận và biến động năng lượng sự sống, để cho những năng lượng sau khi được biến đổi có các đặc tính, tính chất phù hợp hơn với các cõi giới bên dưới. Các trung tâm năng lượng này chính là các Đấng Cao Cả. Người đệ tử lúc nãy cũng là một trung tâm năng lượng ở cõi Hạ Giới. Và cũng giống như các Đấng Cao Cả, người đệ tử cũng sẽ tiếp nhận năng lượng, biến đổi hoặc trực tiếp trao truyền như những ân huệ đến những chúng sinh khác.
- Công việc của vị La Hán là phải thực hiện cái công việc vĩ đại là tiến lên những đỉnh cao tột trong cõi giới cao siêu huyền diệu nhất của đời người. Muốn thực hiện điều này, vị La Hán phải loại trừ năm điều cuối cùng, trong tất cả mười điều chướng ngại lớn. Đó là:
+ Ruparaga - ưa thích có sắc tướng đẹp đẽ, hoặc ham muốn sự sống có hình hài, sắc tướng, gồm cả sự sống ở cọi Thiên Giới.
+ Arupraga - ham muốn sống trong cảnh vô sắc tướng.
+ Mano - sự kiêu căng.
+ Uddhachchha - sự vọng động, dễ bị động tâm vì ngoại cảnh.
+ Avidya - sự vô minh.
20) Cuộc Điểm Đạo lần thứ năm - quả vị Chơn Tiên (Asekha)
- Người Đạo Đồ đạt được quả vị Chơn Tiên sẽ trở thành vị Siêu Nhân. Với quả vị này, từ đây người Đạo Đồ không còn phải học hỏi điều gì nữa và đã trải qua tất cả các kinh nghiệm sống của một con người dưới cõi Trần.
- Ý Chí người đạo đồ đạt quả vị Chơn Tiên hỗn hợp với Ý Chí của vũ trụ. Tâm thức của ngài đã bắt đầu thức tỉnh trên cõi Đại Niết Bàn.
- Tâm thức cõi Đại Niết Bàn không thể diễn tả bằng lời. Đó là tâm thức Vô Biên mà chỉ có người đạt chứng ngộ có thể kinh nghiệm nhưng không thể nào diễn giải được.
21) Những cuộc Điểm Đạo cao hơn
- Quả vị Đế Quân (Chohan) là quả vị tiếp theo của Chơn Tiên. Tiếp theo là các quả vị cao hơn như Đại Đế Quân (Dhyan Chohan)...
- Có rất nhiều quả vị cao hơn nữa, kéo dài đến vô tận vô biên. Không gì có thể diễn tả được trạng thái, trải nghiệm, kinh nghiệm khi đạt đến được những quả vị này do đó, chỉ có thể chờ đến khi người đạo đồ tự mình trải qua mà thôi.
22) Bảy con đường Siêu Nhân Loại
- Ngay sau khi con người đã vượt qua cuộc Điểm Đạo thứ năm và đắc quả vị Chơn Tiên (Asekha), thì Thánh Đạo chia làm bảy con Đường lớn để cho vị Chơn Tiên chọn lựa một:
(1) Ngài có thể bước vào trạng thái Toàn Tri và Toàn Lực của cảnh Niết Bàn, với những hoạt động ngoài tầm hiểu biết của chúng ta rất xa, để trở nên đấng Cao Cả chuyển kiếp xuống trần trong một bầu thế giới tương lai (tiến Phạn gọi là Dharmakaya). Với lựa chọn này, vị Chơn Tiên lựa chọn rút vào Chơn Thần, không giữ lại bất kỳ hạt nguyên tử trường tồn ở bất cứ cõi giới nào.
(2) Ngài có thể bước vào một "Thời Kỳ Tâm Linh" ở cõi Niết Bàn; câu này có nhiều ý nghĩa huyền bí (tiếng Phạn gọi là: Sambhogakaya). Với lựa chọn này, vị Chơn Tiên giữ lại hạt nguyên tử trường tồn Niết Bàn và tự biểu lộ mình như một đấng Cao Cả có đủ Ba Ngôi.
(3) Ngài có thể trở nên một vị Thủ Kho Thần Lực mà các vị Thiên Sứ của Thượng Đế dùng để làm công việc của các Ngài (tiếng Phạn gọi là: Nirmanakaya). Với lựa chọn này, vị Chơn Tiên giữ lại thể Thượng Trí cùng với các hạt nguyên tử trường tồn khác để có thể tạo ra các thể Trí, Vía, Xác bất kỳ khi nào cần, với mục đích là chuyển thần lực xuống bầu thế giới cũ mà vị Chơn Tiên đó đã tiến hoá bất cứ lúc nào.
(4) Ngài có thể ở lại thế gian để giúp đỡ Nhân Loại, với tư cách là một nhân viên của các Cấp Đẳng Thiên Đình, gọi chung là Quần Tiên Hội.
(5) Ngài có thể chuyển qua một dãy Hành Tinh kế tiếp, để trợ giúp cho công việc tạo tác mọi hình thể sinh vật trên đó.
(6) Ngài có thể bước vào con đường Tiến Hóa của các hàng Thiên Thần.
(7) Ngài có thể gia nhập vào bộ Tham Mưu của Đức Thượng Đế, với tư cách một vị Thiên Sứ, để được Ngài sử dụng ở bất cứ nơi nào trong Thái Dương Hệ.
23) Các cấp đẳng Thiên Đình
(1) Công việc của các Chân Sư ở Thiên Đình
- Các Ngài giúp đỡ bằng đủ mọi cách sự tiến hóa của nhân loại. Từ trên cõi giới cao siêu nhất, các Ngài ban rải ánh sáng và sinh lực xuống khắp thế gian để cho muôn loài được hưởng thụ.
- Kế đó là công việc vĩ đại về mặt trí tuệ. Từ cõi Thượng Thiên, các đấng Chân Sư phóng ra những hình tư tưởng có thần lực rất mạnh để giúp nguồn cảm hứng cho những bậc thiên tài vĩ nhân trong thiên hạ, những người này sẽ bắt được luồng tư tưởng đó và đưa ra cho thế gian được hưởng thụ những kết quả tốt đẹp. Cũng trên địa hạt này, các Ngài gởi chỉ thị cho những vị đệ tử biết những công việc nào họ phải làm.
- Trên cõi Hạ Thiên, các Ngài phóng ra những hình tư tưởng có ảnh hưởng đến Hạ Trí con người, dìu dắt tư tưởng con người theo những đường hoạt động hữu ích cho thế gian. Các Ngài cũng dạy dỗ những linh hồn đang sống trên cõi Thượng Giới.
- Trên cõi Trung Giới, sự hoạt động của các Ngài gồm có việc giúp đỡ những linh hồn vừa mới từ giã cõi Trần, hướng dẫn và trông nom việc huấn luyện những đệ tử trẻ tuổi, và trợ giúp trong vô số những trường hợp cần được giúp đỡ.
- Ở cõi Phàm Trần, các Ngài dò xét những trào lưu và thời cuộc thế giới; sửa đổi và diệt trừ những khuynh hướng bất hảo trong phạm vi mà luật thiên nhiên cho phép; giữ mực quân bình giữa những sức mạnh đối lập thuận và nghịch với sự tiến hóa, tăng cường điều thiện, giảm bớt điều ác. Các Ngài cũng hợp tác với những vị Thiên Thần của các quốc gia, dìu dắt những sức mạnh tâm linh của nhân loại trong khi các Thiên Thần dìu dắt sự tiến hóa về hình thể sắc tướng của muôn loài".
(2) Khu vực hoạt động của các Chân Sư
- Theo sự phân chia hiện thời, một vị Chân Sư cai quản toàn cõi Âu Châu, một vị khác cai quản xứ Ấn Độ... và như thế toàn thể địa cầu đều được phân ra từng khu vực rộng lớn. Những khu vực đó không có theo những đường ranh giới chính trị hay địa lý.
- Trong vùng địa phận của mỗi vị Chân Sư, Ngài chăm nom săn sóc tất cả những cấp đẳng và hình thể tiến hóa, không những của nhân loại mà thôi, mà cũng gồm cõi giới Thiên Thần, những loại Tinh Linh, cầm thú, thảo mộc và kim thạch, những loại tinh hoa chất, cùng những loài khác nữa mà từ trước đến nay chưa từng nghe nói đến bao giờ. Như thế, công việc của các Ngài bề bộn là dường nào.
- Ngoài ra sự chăm nom của các đấng Chân Sư, mỗi giống dân hay mỗi quốc gia còn được sự giúp đỡ của mỗi vị Thiên Thần, vị này cũng bảo trợ và dìu dắt sự tiến hóa của mỗi quốc gia.
(3) Sự phân phối thần lực
- Chân Sư ban rải thần lực riêng của ngài hoặc rút từ kho thần lực của đấng Nirmanakaya. Việc nhận được ân huệ như thế nào phụ thuộc chủ yếu vào nghiệp của mỗi chúng sinh.
- Quần Tiên Hội hợp nhất với tất cả nhân loại trên các cõi cao và nhờ đó mà một phần lớn của kho thần lực được phân phối cho nhân loại. Từ cõi Thượng Thiên, các Chân Sư ảnh hưởng đến mọi linh hồn không bỏ sót một ai và do đó, các ngài giúp ích rất nhiều cho sự tiến hoá tâm thức của mỗi người.
- Ảnh hưởng của thần lực đến mỗi người đều theo một cách trọn vẹn, đủ đầy. Không có người nào khác người nào cả.
(4) Cách sử dụng lòng sùng tín
- Các đấng Cao Cả dùng những cuộc hội họp của nhiều người cùng chịu ảnh hưởng của lòng sùng tín, những buổi nghi lễ của tôn giáo như một đường vận hà để ban rải một nguồn thần lực lớn xuống cho thế gian và do đó khích động sự phát triển tâm linh một số đông người.
- Những khối tư tưởng được hình thành bởi số đông những người sùng đạo sẽ tạo ra một lượng lớn năng lượng sự sống hay sinh lực có thể được dùng vào việc lành.
- Những nơi có nhiều đền đài, miếu, xá lợi, các bậc Chân Sư, Đạo Sư, các trung tâm lễ nghi tôn giáo, những nơi các tín đồ hành hương đến... là những nơi tập trung thần lực, sinh lực và cũng là con đường vận hà thần lực của các Chân Sư, các đấng Cao Cả.
- Lòng sùng tín chân thành là rất quan trọng, đôi khi quan trọng hơn nhiều so với điều (sinh mệnh, sự vật, sự việc) mà lòng sùng tín của nhân loại đặt vào.
(5) Công việc của các Đệ Tử
- Tham gia vào nhiều ngành nghề đang có trên thế gian để làm việc và phụng sự.
- Trở thành một trung tâm, một điểm trên con đường vận hà năng lượng của các Chân Sư.
- Phụng sự một cách thực tế trên cõi Trung Giới thông qua việc thành lập nhóm Cứu Trợ Vô Hình. Thường là giúp đỡ những người mới chết đang hoang mang, bỡ ngỡ, lạc loài và có khi đau khổ. Thường những vong linh tốt hoặc người thân chưa thoát khỏi cõi Trung Giới sẽ giúp đỡ những hiểu biết và kinh nghiệm của họ cho người mới chết khi bước vào cõi Trung Giới.
II. Phần hai
1) Các giống dân
- Quần Tiên Hội chuẩn bị sự tiến hoá của các giống dân và quốc gia mới. Trong đó những đức tánh của một nhân loại tương lai sẽ được phát triển một cách tuần tự và điều hoà.
- Sự thành lập các giống dân với các đặc tính về thể chất, tình cảm, trí tuệ cũng có trật tự rõ ràng.
2) Đức chưởng giáo lâm phàm
- Việc lâm phàm của Đức Chưởng Giáo lâu lắm mới xảy ra một lần và thuộc về Cung 2 - coi về hoạt động Tôn Giáo và Giáo Dục.
- Điểm chân lý chính mà Đức chưởng giáo nhấn mạnh là: những đau khổ của thế gian đều do bởi sự thiếu tình thương và tình huynh đệ giữa loài người. Nếu con người biết thương yêu nhau và đối xử với nhau tình huynh đệ thân hữu, thì mọi điều ác đều tiêu trừ và một hoàng kim thời đại sẽ đến với chúng ta.
3) Chủng chi thứ sáu
- Đức Bàn Cổ dùng trí tuệ, ý chí để nhồi nắn, sửa đổi hình thể và sắc tướng của những trẻ sơ sinh trong thời đại mới. Đồng thời, những nhân viên trẻ tuổi của Quần Tiên Hội hiện đang hoạt động ở thế gian cũng được chỉ thị của các Ngài để giúp đỡ cho những thiếu nhi ấy sự giáo dục và huấn luyện thích nghi với Giống Dân mới.
4) Giống dân thứ sáu
- Giống dân này sẽ xuất hiện bên xứ California (Hoa Kỳ) vào khoảng độ 700 năm sau. Khi đó, một thiểu số người sẽ thiết lập tại xứ ấy, dưới sự điều khiển của Đức Bàn Cổ. Giống Dân thứ 6, tức là Đức Chân Sư Morya hiện nay, và cùng hợp tác với Ngài sẽ có Đức Chân Sư Kuthumi, tức là vị Bồ Tát của Giống Dân thứ 6.
7) Những vị Đế Quân và các Cung
- Vạn vật trong vũ trụ đều biểu lộ thông qua bảy cung. Trong Quần Tiên Hội, bảy cung xuất hiện như sau:
+ Cung 1: Cung Uy Quyền, do Đức Ngọc Đế cai quản. Do Chân Sư Morya đại diện ở cấp đẳng Đế Quân. Đặc tính của Ngài là ý chí và uy quyền.
+ Cung 2: Cung Tôn Giáo, do Đức Phật cai quản. Do Chân Sư Kuthumi đại diện ở cấp đẳng Đế Quân. Đặc tính của Ngài là minh triết và bác ái.
+ Cung 3,4,5,6,7: đều thuộc quyền cai quản của Đức Văn Minh Đại Đế. Trong đó:
- Tuy nhiên, trong một Dãy Hành Tinh (cũng có thể trong cả một Thái Dương Hệ), chỉ có một trong những Đại Vũ Trụ Cung là đang hoạt động.
- Toàn thể Thái Dương Hệ của chúng ta là sự Biểu Lộ của Đức Thái Dương Thượng Đế, và mỗi một vi tử nhỏ trong đó đều là một phần trong các thể của Ngài. Tất cả vật chất Hồng Trần trong Thái Dương hệ gồm lại thành Thể Xác của Ngài; Toàn thể chất Trung Giới trong Thái Dương Hệ gồm lại thành Thể Vía của Ngài; toàn thể chất Thanh Khí ở cõi Thượng Giới gồm lại thành Thể Trí của Ngài v.v... Hoàn toàn ở trên và ở ngoài vòng Thái Dương Hệ, Ngài còn có một sự sinh hoạt rộng lớn và bao la hơn nhiều, nhưng điều này không thể ảnh hưởng một chút nào đến sự thật của điều mà tôi vừa trình bày ở trên.
- Đức Thái Dương Thượng Đế bao gồm luôn cả Bảy Vị Đại Tinh Quân, những vị này đều là những trung tâm Thần Lực của Ngài, những đường vận hà xuyên qua đó Thần Lực của Ngài được ban rải ra. Đồng thới có một ý nghĩa theo đó người ta có thể hiểu rằng những vị ấy đều gồm thành phần của Ngài. Những thứ vật chất mà chúng tôi vừa miêu tả như là gồm thành phần các Thể của Ngài, đồng thời cũng gồm cả trong Thể của những vị Đại Tinh Quân ấy, vì không có một điểm nhỏ vật chất nào trong Thái Dương Hệ mà không gồm thành phần các Thể của một trong các vị Đại Tinh Quân. Điều này cũng áp dụng cho tất cả Cõi giới khác nhau trong Thái Dương Hệ, nhưng chúng tôi xin tạm lấy ví dụ Cõi Trung Giới để giải thích, vì vật chất của Cõi này khá uyển chuyển để ứng đáp nhu cầu của cuộc thí nghiệm sưu tầm của chúng tôi và đồng thời nó cũng gần nhứt với Cõi Hồng Trần để không phải là hoàn toàn ngoài phạm vi hiểu biết của chúng ta.
- Một vi tử vật chất Trung Giới trong Thái Dương hệ là một phần Thể Vía của một trong Bảy vị Đại Tinh Quân. Chúng ta nên nhớ rằng nó cũng là chất Trung Giới do đó Thể Vía của chúng ta được cấu tạo nên. Chúng ta không có phần vật chất nào là hoàn toàn của riêng chúng ta. Trong mỗi Thể Vía, đều có những vi tử vật chất thuộc về một trong Bảy vị Đại Tinh Quân, nhưng cái tỷ lệ vật chất đó khác biệt nhau đến vô cùng tận. Những Thể mà mỗi Chân Thần khoác lấy kể từ lúc khởi thủy, khi nó xuất hiện xuyên qua một vị Đại Tinh Quân nhất định, sẽ tiếp tục gồm có nhiều vi tử của đơn vị ấy hơn là của vị nào khác trải qua một thời kỳ tiến hóa của nó. Bởi đó người ta có thể phân biệt được một người thuộc về một Cung nào trong Bảy Cung, tiêu biểu cho Bảy loại Quyền Năng Cao Cả.
- Bảy vị Đại Tinh Quân, chính là những trung tâm thần lực của Thượng Đế vậy. Đó là những vị cầm đầu các Cung, những vị Chưởng Cung của toàn thể Thái Dương Hệ, chứ không phải của quả Địa Cầu không thôi. Từ lúc khởi thủy mỗi người trong nhân loại đã từng xuất hiện xuyên qua một vị trong Bảy vị Đại Tinh Quân đó, có người thuộc về vị này có người thuộc về vị khác.
- Tất cả nhân loại luôn luôn đứng trước sự hiện diện của Đức Thái Dương Thượng Đế, vì trong Thái Dương Hệ, không có nơi nào mà không có Ngài, và tất cả mọi sinh vật đều là một phần của Ngài. Nhưng theo một ý nghĩa đặc biệt, Bảy vị Đại Tinh Quân là những phần tử của Ngài, là sự biểu lộ của Ngài, hầu như là những đức tính của Ngài - tức là những trung tâm xuyên qua đó Thần Lực của Ngài được ban rải ra. Mọi sự vật sở dĩ có đều do kết quả của những sức mạnh tự nhiên hành động theo những định luật của Vũ Trụ, nhưng đằng sau mỗi sức mạnh luôn luôn có một đấng Thiêng Liêng cai quản dìu dắt, và chỉ huy - chính là nơi phát nguồn của Thần Lực hay nguồn gốc của sức mạnh tự nhiên.
- Danh tự Do Thái của bảy vị Đại Tinh Quân:
+ Thiên Thần Michael, danh từ này có nghĩa là "Sức mạnh của Thượng Đế", và có liên hệ đến bầu Hỏa Tinh.
+ Thiên Thần Gabriel có nghĩa là "Toàn Trí của Thượng Đế" và liên hệ đến bầu Thủy Tinh.
+ Thiên Thần Raphael có nghĩa là "Quyền năng của Thượng Đế" và liên hệ đến ngôi Mặt Trời, là bầu Tinh Tú ban bố sức khỏe và sinh lực cho muôn loài ở thế gian.
+ Thiên Thần Uriel có nghĩa là "Ánh Sáng của Thượng Đế".
+ Thiên Thần Zadkiel nghĩ là "Hảo ý của Thượng Đế" và liên hệ đến Mộc Tinh.
+ Thiên Thần Chamuel
+ Thiên thần Jophiel.
8) Bảy hạng chúng sinh trong muôn loài
- Khi cái vật chất sơ khai hay cái tinh thần nguyên thủy bắt đầu xuất hiện từ chỗ Vô Cực để tiến hóa và trong tương lai sẽ trở nên con người như chúng ta, nó xuất phát xuyên qua Bảy con đường vận hà chính là bảy vị Huyền Thiên Thượng Đế hay bảy trung tâm Thần Lực của đấng Thái Dương Thượng Đế.
- Xuyên qua tất cả các loài, từ loài tinh hoa chất, khoáng chất, thảo mộc, cầm thú, thì các Cung đều luôn luôn phân biệt khác nhau rõ rệt cũng như trong loài người, tuy rằng trong những loài thấp kém hơn, ảnh hưởng của mỗi Cung tự nhiên hành động một cách khác nhau. Vì những loài này chưa có một cá tính hay một linh hồn riêng biệt, nên toàn thể một giống thú chẳng hạn phải là thuộc về một Cung.
- Như thế, những loài thú vật khác giống có thể được sắp hạng theo Bảy loại tùy theo chúng thuộc về Cung nào. Vì một con thú chỉ có thể thoát kiếp thú thành người nhờ sự tiếp xúc với người, nên đứng đầu mỗi Cung, có một loại thú nhà làm tiêu biểu, và mọi sự thoát kiếp thành người trên một Cung đặc biệt nào đều phải đi xuyên qua loại thú nhà nói trên.
- Đối với loài Người, có đủ bảy hạng rõ rệt, và mỗi người trong chúng ta đều thuộc về một Cung nhất định. Người ta vẫn luôn luôn nhìn nhận rằng trong loài người, thường có sự khác biệt căn bản như thế. Tuy nhiên, thường rất khó để nhận ra Cung của một người nào đó bởi vì đủ loại nghiệp quả mà người đó đã tạo ra trong cõi giới Hồng Trần đã chế ngự, chi phối các đặc tính của Cung mà người đó thuộc về. Trái lại người đi trên đường Đạo biểu lộ rõ rệt một ý chí nhất định, hay một quyền năng đặc biệt, nó có cái đặc tính riêng thuộc về Cung của mình và do đó đưa người đạo đồ vào con đường hoạt động hay công việc phụng sự hay đến gần một vị Chân Sư thuộc về Cung đó.
9) Những phương pháp hành động của mỗi Cung
- Người thuộc Cung 1 sẽ đạt mục đích bằng sức mạnh của Ý Chí mà không dùng đến những phương tiện khác.
- Người thuộc Cung 2 cũng dùng sức mạnh Ý Chí, nhưng với một sự hiểu biết đầy đủ về những phương pháp áp dụng khác nhau, và điều khiển ý chí vào một phương pháp thích nghi nhất.
- Người thuộc về Cung 3 sẽ dùng những sức mạnh của cõi Trí tuệ, và ghi nhận rất kỹ lưỡng ngày giờ nào mà mọi ảnh hưởng sẽ được thuận lợi nhứt cho cuộc thành công của mình.
- Người thuộc Cung 4 sẽ sử dụng những sức mạnh tinh vi của chất dĩ thái Hồng Trần.
- Người thuộc Cung 5 có thể chuyển vận những luồng từ điển thuộc cõi Trung Giới.
- Người thuộc Cung 6 sẽ đạt tới kết quả mong muốn bằng sức mạnh của đức tin nơi một vị Thần Minh và tin nơi hiệu lực của sự cầu nguyện.
- Còn người thuộc Cung 7 sẽ dùng những nghi thức lễ bái, cúng tế, và kêu gọi sự giúp đỡ của các hạng vong linh hay sự hợp tác của Thiên Thần.
10) Những sự biến đổi từng chu kỳ
- Trong Bảy vị Đại Tinh Quân có những cuộc biến đổi diễn ra từng thời kỳ, giống như sự tuần hoàn của hơi thở trong bộ máy hô hấp hay sự vận động của quả tim. Vì lẽ những thể Vía của chúng sinh được cấu tạo cùng một chất với thể Vía của các Ngài, cho nên khi một vị Đại Tinh Quân thay đổi trạng thái của thể Vía, thì tự nhiên là điều đó sẽ ảnh hưởng đến thể Vía của mỗi người trên thế gian. Ảnh hưởng này sẽ đặc biệt và rõ rệt hơn đối với những người nào mà thể Vía có chứa đựng một tỷ lệ vật chất gần giống như trong thể Vía của Ngài. Đây chỉ là một ví dụ liên quan đến cõi Trung Giới. Sự biến đổi này cũng sẽ giống nhau cho tất cả các cõi giới khác. Bởi vậy, sự thay đổi của tâm thức / thể của các đấng Đại Tinh Quân sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức / thể của chúng sinh.
- Sự biến đổi trên sẽ diễn ra trong từng loại chu kỳ, như chu kỳ một Giống Dân, chu kỳ của một Bầu, chu kỳ của một Dãy Hành Tinh, chu kỳ của một Hệ Tiến Hoá, chu kỳ của một Thái Dương Hệ, chu kỳ của một Vũ Trụ ...
- Đối với chu kỳ một Giống Dân, thì trong chu kỳ đó, ảnh hưởng của bảy Cung thay phiên nhau biểu lộ rõ rệt và trong thời kỳ của mỗi cung, lại có bảy tiểu hạn ảnh hưởng theo một định luật huyền bí.
11) Ba Ngôi và những hình Tam Giác
- Ba Ngôi của Thượng Đế: vị Chúa Tể của Thái Dương Hệ chúng ta - tức là đấng Thiêng Liêng mà người ta gọi là Thượng Đế - là một Đấng Cao cả gồm có ba phương diện thần bí gọi là Ba Ngôi.
- Cũng như Thượng Đế có ba Ngôi. Quần Tiên Hội cai quản Địa Cầu có ba ngành hoạt động chính đặt dưới sự cai quản của ba Đấng Cao Cả - là sự phản ảnh của Ba Ngôi mà còn là sự biểu lộ thực sự của Ba Ngôi đó vậy - đó là Đức Ngọc Đế, Đức Phật và Đức Văn Minh Đại Đế.
+ Đức Ngọc Đế hợp nhất với Ngôi thứ Nhất trên cõi Tối Đại Niết Bàn là cõi cao nhất trong bảy cõi, và chủ trị Ý Chí Thiêng Liêng trên quả Địa Cầu.
+ Đức Phật hợp nhất với Ngôi thứ Hai, vốn ngự trị ở cõi Đại Niết Bàn, và giúp nguồn Minh Triết Thiêng Liêng cho nhân loại.
+ Đức Văn Minh Đại Đế hợp nhất với Ngôi thứ Ba, ngự trị trên cõi Niết Bàn và với tư cách đại diện Chúa Thánh Thần, Ngài cai quản mọi sự Hoạt Động Thiêng Liêng.
- Trọn hết thời kỳ một Giống Dân, Đức Bàn Cổ trông nom từng chi tiết cuộc tiến hóa tổng thể. Đức Bồ Tát, với tư cách là Đức Chưởng Giáo, trông coi về phần Giáo Dục và Tôn Giáo, giúp đỡ những người trong Giống Dân đó phát triển phần tâm linh đến một mực tùy theo trình độ của họ. Đức Văn Minh dìu dắt phần trí tuệ thông minh của họ để cho mọi hình thức văn minh và khai hóa có thể phát triển tùy theo từng chu kỳ, ba đấng Cao Cả nói trên cũng ví như bộ óc, quả tim và bàn tay, tất cả đều hoạt động để dìu dắt nòi giống nhân loại tiến hóa cho phù hợp với Thiên Cơ.
- Đức Mẹ Thế Gian - Thánh Mẫu của Vũ Trụ, Nữ Vương của các đấng Thiên Thần, Ngôi Sao của Biển Cả: là một phương diện Mẫu Nghi của Thượng Đế. Có một ngành hoạt động thuộc về Đức Mẹ trong Thiên Cơ cũng như ngành hoạt động của Đức Bàn Cổ.
+ Cũng như Đức Bàn Cổ đứng đầu một cơ quan coi sóc sự tiến hóa về phần hình thể của những Chủng Chi, cũng như Đức Bồ Tát cai quản một Cơ quan khác trông nom về mặt tôn giáo và Giáo Dục, thì đấng Cao Cả trông coi về công việc của Đức Mẹ tức là Đức Mẹ Thế Gian.
+ Cũng như đức Vaivasvata hiện nay đảm nhiệm công việc của Đức Bàn Cổ, và Đức Di-Lặc Maitreya lãnh phần trách nhiệm của Đức Chưởng Giáo, thì đấng Đại Thiên Thần trước kia đã từng là mẹ của Đức Jesus, hiện nay đảm nhiệm công việc Đức Mẹ Thế Gian.
- Công việc của cơ quan này là đặc biệt trông nom săn sóc những phụ nữ làm mẹ trên thế gian. Về phương diện huyền bí, sứ mạng cao cả của người phụ nữ không phải là trở nên một nhà lãnh tụ ở ngoài đời, hoặc chiếm những cấp bằng lớn về khoa cử và sống riêng biệt trong tháp ngà, nhưng là để tạo nên những thể xác cho những linh hồn sẽ đầu thai xuống Trần.
+ Có một cơ quan đặc biệt của Quần Tiên Hội trên địa cầu, mà trách nhiệm của đấng Cao Cả trông coi cơ quan ấy là trợ giúp cho mỗi người đàn bà khi sinh sản đau đớn, và đưa đến cho họ sự giúp đỡ và sức mạnh tùy theo nghiệp quả riêng của họ.
+ Đức Mẹ luôn luôn muốn rằng mỗi người phụ nữ lâm bồn nên chọn lấy một nơi sanh trong lành và tốt đẹp. Ngài muốn rằng họ nên nuôi lấy tình thương sâu đậm và chân thật, cùng những tư tưởng thánh thiện và cao quý, để cho khi sanh sản họ rút được những ảnh hưởng và ân huệ thanh cao xuống cho đứa hài nhi, và như thế đứa trẻ được sinh ra trong một hoàn cảnh thuận lợi cho việc bắt đầu một cuộc đời mới. Nó phải được sinh ra giữa một bầu không khí đầy từ điển trong sạch, tinh khiết và tốt đẹp nhất, và người mẹ cần phải giữ gìn cho thể xác được sạch sẽ, đúng phép vệ sinh trong từng những chi tiết nhỏ nhặt. Có được như vậy, đứa trẻ mới sinh ra với một xác thân tốt đẹp và lành mạnh, để dùng làm cái khí cụ cho một linh hồn tiến hóa.
+ Mỗi phụ nữ nên nhận thức lấy những cơ hội vô cùng tốt đẹp mà một kiếp đầu thai làm đàn bà đem đến cho họ. Mỗi phụ nữ cần được chỉ dạy về những điều kiện tuyệt đối cần thiết mà họ phải noi theo trước khi, trong khi và sau khi mang thai. Không những Thể Xác đứa hài nhi phải được giữ gìn và chăm nom săn sóc một cách hoàn toàn kỹ lưỡng, mà nó còn phải được bao phủ trong một bầu không khí trong lành đượm nhuần tình thương yêu, hạnh phúc và thánh thiện. Bằng cách đó, công việc của Đức Mẹ thế gian sẽ được dễ dàng hơn gấp bội và tương lai của giống nòi cũng sẽ được bảo đảm.
+ Đức Mẹ chính là đại diện, là kiểu mẫu và tinh hoa của tính Bác Ái, lòng Sùng Tín và sự Tinh Khiết. Ngài cũng là hiện thân của sự Minh Triết thiêng liêng, nhưng trên hết tất cả mọi sự, thì Đức Mẹ là đấng an ủi, cứu khổ, phò nguy và giúp đỡ cho tất cả những người bị lâm cơn đau khổ, buồn rầu, đói lạnh, bệnh tật, và bị mọi nỗi khổ đau của nghịch cảnh.
12) Đổi Cung
- Mỗi nhân loại đều có thể dựa vào Ý Chí của mình để đổi Cung. Phương pháp đổi Cung cũng khá giản dị về mặt lý thuyết nhưng thường rất khó thực hành. Nếu một người thuộc Cung 6 hay Cung Sùng Tín, muốn đổi qua Cung 2, tức Cung Minh Triết, trước hết phải cố gắng đặt mình dưới ảnh hưởng của Tiểu Chi thứ hai của Cung 6. Kế đó, sẽ luôn luôn cố gắng gia tăng ảnh hưởng của Tiểu Chi đó trên đời sống hằng ngày, cho đến khi nó trở nên mạnh mẽ và trội nhất. Như thế thay vì thuộc Tiểu Chi thứ hai của Cung 6, người đó sẽ đổi qua Tiểu Chi thứ 6 của Cung 2.
- Việc đổi Cung là hiếm khi xảy ra và thường người ta đổi Cung mình để thuyên chuyển qua Cung 1 và Cung 2, và ít có người trên hai Cung này ở vào những trình độ tiến hóa thấp kém.
13) Minh Triết trong ba Ngôi
- Đức Phật của thời đại này là Phật Thích Ca, hiệu là Cồ Đàm (Gautama), Ngài chuyển kiếp lần cuối cùng tại xứ Ấn Độ cách đây độ 2.500 năm. Kiếp đó cũng là kiếp cuối cùng chấm dứt một loạt nhiều kiếp ở quả vị Bồ Tát, sau đó Ngài nối nghiệp cho vị Phật quá khứ là Phật Kasyapa ở chức vụ Chưởng Quản Cung thứ Hai trong Quần Tiên Hội trong Địa Cầu.
- Trong chu kỳ của một bầu thế giới, có bảy vị Phật nối tiếp nhau xuất hiện, mỗi vị Phật dìu dắt cho một Giống Dân, và thay nhau đảm nhiệm công việc đặc biệt của Cung Hai cho toàn thế giới. Trong chức vụ đó, Ngài coi sóc lấy phần việc các cõi trên, và giao phó cho vị Phụ Tá và Đại Diện của Ngài là Đức Bồ Tát, trách nhiệm của vị Chưởng Giáo ở các cõi Hạ Giới.
- Đức Phật Thích Ca là Đức Phật đầu tiên do nhân loại trong Dãy Hành Tinh Địa Cầu đạt được quả vị đó. Từ trước đến thời điểm này, Dãy Hành Tinh Địa Cầu đều được các Đức Bàn Cổ, Đức Chưởng Giáo từ các Dãy Hành Tinh khác trông coi, chăm sóc.
- Đức Phật Thích Ca mỗi năm sẽ trở lại thế gian một lần vào ngày lễ Phật Đản để ban rải ân huệ cho chúng sinh. Với quyền năng và địa vị của Ngài, một vị Phật có thể bước vào những cõi giới siêu linh hoàn toàn ngoài vòng hiểu biết của chúng ta, Ngài có thể rút thần lực và chuyển hoá ở những cõi giới đó để ban rải xuống cõi Hồng Trần. Nếu không có sự trung gian của Đức Phật thì những nguồn thần lực đó sẽ vô ích cho chúng ta ở cõi Trần, vì nó có những rung động vô cùng tế nhị, mạnh mẽ và mau chóng đến nỗi nó có thể đi xuyên qua người chúng mà ta không hề hay biết chi cả. Thần lực do Đức Phật ban rải cho thế gian được thấm nhuần khắp mọi nơi, nó giúp sức và tăng cường cho mọi việc làm hữu ích, và đem sự bình an cho những tâm hồn lương thiện.
9) Cuộc Điểm Đạo đầu tiên của người đệ tử
- Những cuộc Điểm Đạo trong một Hành Tinh đều do một đấng Điểm Đạo duy nhất đảm nhiệm.
- Những cuộc Điểm Đạo thứ nhất, thứ nhì có thể có các vị Chân Sư thay mặc cho Đấng Điểm Đạo chủ trì nhưng các vị Chân Sư cần kêu gọi đến Đấng Điểm Đạo vào thời điểm mà quả vị được ban cho người đệ tử.
- Cuộc điểm Đạo thứ nhất, chứng quả Tu Đà Hườn: người đệ tử sau cuộc điểm đạo đầu tiên này đã chính thức trở thành một phần tử của Quần Tiên Hội.
10) Người tân đạo đồ đối với Quần Tiên Hội
- Người đệ tử trở thành Tân Đạo Đồ của Quân Tiên Hội sau cuộc điểm đạo đầu tiên và từ giây phút đó, tâm thức của người đệ tử hợp nhất với tâm thức toàn thể Quần Tiên Hội.
10) Người tân đạo đồ đối với Quần Tiên Hội
- Người đệ tử trở thành Tân Đạo Đồ của Quân Tiên Hội sau cuộc điểm đạo đầu tiên và từ giây phút đó, tâm thức của người đệ tử hợp nhất với tâm thức toàn thể Quần Tiên Hội.
- Sự hợp nhất tâm thức đó là sự cộng hưởng diễn ra với các tần số ứng với các bội số khác nhau.
- Sự cộng hưởng tâm thức này diễn ra càng mạnh mẽ thì tâm thức của Tân Đạo Đồ càng rộng mở, năng lực nhận thức tăng trưởng mạnh mẽ và vì sự hợp nhất tâm thức này mà Tân Đạo Đồ cần phải giữ cho tâm thức của mình được thanh tĩnh, tinh khiết, không xáo trộn. Việc xáo trộn tâm thức của Tân Đạo Đồ sẽ ảnh hưởng đến biển tâm thức Quần Tiên Hội. Do đó, cũng ảnh hưởng chung đến công việc của các Đấng Cao Cả đang thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Vì hợp nhất với tâm thức của Quần Tiên Hội nên người đệ tử có thể ban rải ân huệ của Quần Tiên Hội đến những đối tượng cần ban rải. Nguồn thần lực của Quần Tiên Hội giống như của Chân Sư sẽ đi đến người đệ tử như một điểm trong các con đường vận hà năng lượng thần lực và người đệ tử sẽ ban rải thần lực này đến các đối tượng được nhận ân huệ. Tuỳ theo sự tiến hoá và đức tin của người đệ tử mà nguồn thần lực ấy đến với mức độ ít nhiều khác nhau.
Tâm thức của Quần Tiên Hội là một điều huyền diệu khôn tả. Nó giống như một biển đại dương yên lặng, sáng láng, và hợp nhứt một cách tuyệt diệu đến nỗi một gợn sóng nhỏ nhứt trong biển tâm thức đó tức khắc lan rộng cùng khắp nơi trong chớp nhoáng đến chỗ tận cùng. Tuy nhiên đối với mỗi nhân viên Quần Tiên Hội, thì nó hình như là một tâm thức riêng biệt cá nhân, tuy rằng nó có bao hàm một mãnh lực, một sức mạnh và một sự minh triết, mà không một tâm thức riêng của một người nào có thể có được.
- Quần Tiên Hội hợp nhất với Đấng Ngọc Đế. Tâm thức Quần Tiên Hội hợp nhất với tâm thức của ngài.
- Khi cuộc Điểm Đạo được Đấng Điểm Đạo và Đức Ngọc Đế đồng thuận, một luồng từ điển được phát ra từ Đức Ngọc Đế đến trái tim Đấng Điểm Đạo và sau đó đến trái tim người đệ tử. Dưới ảnh hưởng của luồng từ điển, Ngôi Sao Bạc của tâm thức, tượng trưng cho Chơn Thần của người đệ tử sẽ nở lớn, chói sáng ngời cho đến khi vượt khỏi thể Thượng Trí của người đệ tử và trong một lúc, Chơn Thần người đệ tử (là các điểm sáng bên trong các hạt nguyên tử Trường Tồn trong thể Thượng Trí phát sáng rực rỡ) sẽ hỗn hợp với Chơn Nhơn của mình. Sự hỗn hợp (hợp nhất) này sẽ là xảy ra vĩnh viển khi người đệ tử đạt quả vị Chơn Tiên. Thể Vía của người đệ tử cũng được cũng được củng cố cho vững vàng, kiên cố hơn và làm cho có rung động nhịp nhàng cùng với rung động thể Vía của Đấng Điểm Đạo.
- Người đệ tử tại thời điểm được Điểm Đạo đó cũng nhận được ân huệ từ Đức Phật Thích Ca Như Lai, Đức Bàn Cổ, Đức Văn Minh Đại Đế...
- Sau cùng Đấng Điểm Đạo ban Chìa Khoá Hiểu Biết cho người đệ tử. Người Tân Đạo Đồ cũng sẽ sớm được chăm sóc dạy bảo để sớm luyện thể Bồ Đề (Kim Thân) bởi các vị Cao Đồ khác của Chân Sư. Người Tân Đạo đồ cuối cùng ban ân huệ nhận được của mình trong cuộc Điểm Đạo xuống cho chúng sinh vạn vật.
10) Sự thất bại của người đệ tử sau khi được Điểm Đạo
- Có những đệ tử khi mới đặt chân vào Đường Đạo thì đã thụt lùi do không thể đảm đương được trách nhiệm hoặc không thể tiến lên thêm được nữa. Đệ tử được Điểm Đạo đã thất bại.
- Khi sự thất bại xảy ra, có gợn sóng đau thương làm rung động biển tâm thức Quần Tiên Hội vì khi đó có sự chia tách xảy ra đối với sự hợp nhất tâm thức của người đệ tử và Quần Tiên Hội.
- Người đệ tử đã được Điểm Đạo cần phải luôn luôn giữ mình tinh tấn trên con Đường Đạo để quên mình phụng sự chúng sinh. Người đệ tử sẽ có được sức mạnh, quyền năng lớn nhờ sự hợp nhất với tâm thức Quần Tiên Hội nhưng vì có thêm được sức mạnh đó mà trách nhiệm của người đệ tử cũng lớn hơn, sự phụng sự chúng sinh vì thế cũng nhiều hơn.
- Người đệ tử đã được Điểm Đạo cần ghi nhớ rằng, các nghiệp quả gây ra khi là một đệ tử đã gia nhập vào Quần Tiên Hội sẽ nặng nề hơn nhiều so với khi chưa gia nhập.
11) Địa vị "Con của Đức Thầy"
- Khi người đệ tử gần tiến đến thời điểm Điểm Đạo thì sự hợp nhất giữa Chân Sư và đệ tử đó càng trở nên chặc chẽ hơn rất nhiều. Lúc ấy không chỉ thể Hạ Trí mà cả Chơn Nhơn trong thể Thượng Trí của người đệ tử cũng được bao phủ bởi thể Thượng Trí của Chân Sư.
- Vì sự hợp nhất mật thiết này mà người đệ tử có sức mạnh, quyền năng lớn hơn. Từ đó, sự ban ân huệ của người đệ tử cho chúng sinh thế gian cũng vì thế mà hữu ích, lớn lao hơn.
- Niềm vui, hạnh phúc mà bất kỳ nơi đâu người đệ tử đi đến cũng sẽ vì thế mà lớn lao hơn.
12) Các cuộc Điểm Đạo thứ hai, thứ ba
- Cuộc Điểm Đạo thứ hai, người đệ tử chứng quả Tu Đà Hàm.
- Cuộc Điểm Đạo thứ ba, người đệ tử chứng quả A Na Hàm.
- Người đệ tử đạt được cuộc Điểm Đạo thứ hai phải dứt bỏ ba điều chướng ngại sau đây:
+ Sự ảo tưởng về bản ngã
+ Sự nghi ngờ
+ Sự mê tín
Tất cả những chướng ngại này đều được vượt qua dựa trên sự tăng trưởng về hiểu biết và nhận thức.
- Trong mỗi giai đoạn trên Đường Đạo đều chia làm bốn thời kỳ:
+ Thời kỳ cố gắng loại trừ các chướng ngại
+ Thời kỳ kết quả - người đi trên Đường Đạo thấy rằng những cố gắng của mình đêm lại kết quả
+ Thời kỳ viên mãn - người đi trên Đường Đạo đạt được kết quả trọn vẹn
+ Thời kỳ bước qua cuộc Điểm Đạo kế tiếp
- Cuộc Điểm Đạo thứ hai và thứ ba về cơ bản cũng giống như cuộc điểm đạo lần thứ nhất. Với sự ban ân huệ của các Đấng Cao Cả sau cuộc điểm đạo, người đệ tử sẽ có các thể Vía, Hạ Trí, Thượng Trí nảy nở và sáng rực rỡ hơn nhiều. Thông qua các thể đã trở nên tiến hoá hơn nhiều này, quyền năng trực giác hay các khuôn mẫu năng lượng sự sống ở cõi giới Bồ Đề có thể đi xuyên qua, đến não bộ của người đệ tử và hướng dẫn cách sống, hành xử của người đệ tử ở cõi Hồng Trần.
- Cuộc Điểm Đạo lần thứ hai giúp người đệ tử trực tiếp mở Trí một cách mau chóng. Ở giai đoạn này, người đệ tử tập sử dụng thể Vía tạm - thể được tạo ra bởi người đã hoạt động được (ý thức được) bằng thể Trí của mình. Người đệ tử khi đã có ý thức và hoạt động độc lập ở cõi Thượng Giới, có thể sử dụng thể Vía tạm khi muốn xuất hiện ở cõi Trung Giới để tiếp xúc với các sinh mệnh ở cõi này.
- Thời kỳ tu luyện sau cuộc Điểm Đạo lần thứ hai phần nhiều là giai đoạn nguy hiểm nhất trên Đường Đạo. Trong giai đoạn này, sự vấp ngã thường do thói kêu căng gây nên. Và điều này thường rất khó sửa đổi. Do đó, người đệ tử trong giai đoạn này cần phải có sự đề phòng cẩn thận, đừng để bản thân rơi vào thói kêu căng, ích kỷ và thành kiến.
- Trong giai đoạn này, người đệ tử không còn cần phải diệt trừ chướng ngại nào nữa nên đây là thời kỳ người đệ tử tiến triển rất nhanh về trí tuệ và tâm linh.
13) Phàm Nhơn
- Tâm thức Phàm Nhơn là điểm tâm thức có hình thức biểu lộ như ngôi sao có ánh sáng chói rạng, được cấu tạo thành bởi năng lượng sự sống tồn tại bên trong ba nguyên tử trường tồn là nguyên tử trường tồn thể Xác, thể Vía và thể Trí.
- Điểm tâm thức Phàm Nhơn này luôn luân chuyển bên trong con người. Vị trí của ngôi sao được trụ ở bất kỳ đâu trong bảy bì huyệt chánh (bảy luân xa) trong cơ thể con người. Mỗi người có thể lựa chọn vị trí của ngôi sao tuỳ vào Cung đặc biệt của họ và cũng tuỳ nơi Đại chủng (giống dân Chánh) hay Chi chủng (giống dân Phụ) của họ.
- Ngôi sao tâm thức Phàm Nhơn là đại diện của Chơn Nhơn ở Phàm Giới (các Cõi hạ Giới). Khi ngôi sao tâm thức Phàm Nhơn biểu lộ qua các Hạ Thể thì toàn bộ sự kết hợp lúc này của tâm thức Phàm Nhơn và các Hạ Thể được gọi là Phàm Nhơn.
14) Sự giao tiếp giữa Chơn Nhơn và Phàm Nhơn
- Giữa Chơn Nhơn và Phàm Nhơn có đường liên kết năng lượng - đó là một đường vận hà để cho năng lượng sự sống (thần lực) được chuyển từ Chơn Nhơn đến Phàm Nhơn. Con đường vận hà đó có tên gọi là Antahkarana hay Sinh Mệnh tuyến.
- Trong quá trình tiến hoá, Sinh Mệnh tuyến này ngày càng đường khai mở và do đó, thần lực Chơn Nhơn truyền xuống Chơn Nhơn ngày càng nhiều. Sự biểu lộ của Chơn Nhơn vì thế cũng ngày càng rõ rệt nơi Phàm Nhơn, đến một thời điểm nào đó sẽ chủ trị luôn Phàm Nhơn. Bằng cách đó, Phàm Nhơn sẽ không còn có một tư tưởng hay ý chí riêng biệt nào, mà chỉ có thể là một phản ảnh của Chơn Nhơn ở Cõi Hạ Giới. Nhân loại hiện tại đang ở giữa hai thái cực này hoặc là chưa giao tiếp với Chơn Nhơn hoặc là giao tiếp hoàn toàn.
- Chơn Nhơn cũng như Phàm Nhơn, cũng đang trên con đường tiến hoá riêng. Cũng như Phàm Nhơn, tiến hoá thông qua việc cố gắng biểu lộ Chơn Nhơn một cách toàn vẹn hơn thì Chơn Nhơn cũng vậy, tiến hoá thông qua việc cố gắng biểu lộ Chơn Thần một cách toàn vẹn hơn.
15) Chơn Nhơn và cõi giới siêu việt
- Tâm thức Chơn Nhơn được biểu lộ qua thể Thượng Trí. Tâm thức Chơn Nhơn càng tiến hoá, càng có nhiều đức tính tốt, những đức tính này có thể tìm thấy những rung động tương đương trong chất của Thể Thượng Trí. Những màu sắc biểu lộ những đức tánh đó mới bắt đầu xuất hiện và Thể Thượng Trí, thay vì trống rỗng, lại chứa đầy sức sống dồi dào. Bấy giờ, thì Chơn Nhơn có thể tự biểu lộ thêm nhiều hơn xuyên qua Thể ấy và bởi đó Thể Thượng Trí càng ngày càng nở lớn thêm gấp bội. Nó vẫn bành trướng thêm mãi cho đến khi đương sự có thể bao trùm hàng trăm, chí đến hàng ngàn người trong vòng hào quang của mình, và như thế, y tạo nên một ảnh hưởng tốt lành trên một quy mô rộng lớn.
- Sự tiến bộ trong quá trình tiến hoá này của Chơn Nhơn giúp cho người đó sống một cuộc đời giữa các đấng Vô Sắc Thiên Thần, giữa các hàng Thiên Thần cao cả ở một cõi giới siêu việt. Giữa các đấng cao cả đó, tư tưởng không còn tượng hình và phiêu bạt mà chúng di chuyển mau như chớp từ người nọ sang người kia.
- Ở cõi giới siêu việt này, không có sắc tướng, chỉ có tâm thức; ở cõi giới này, nhân quả xảy ra liền nhau như hình với bóng; ở cõi giới này, không có cái cụ thể, chi tiết chỉ có cái trừu tượng, thuần tuý và do đó, đạt được sự nhận thức, hiểu biết một cách toàn vẹn; ở cõi giới này, tất cả những kiến thức, hiểu biết cụ thể sẽ được trình bày ở mức trừu tượng, khái quát nhất dưới dạng chỉ một hoặc vài ý niệm. Đây là cách, nội dung mà các Chơn Nhơn giao tiếp với nhau.
16) Sự chú trọng của Chơn Nhơn đối với Phàm Nhơn
- Chơn Nhơn tham gia vào các hoạt động riêng trên cõi riêng của mình cũng như Phàm Nhơn hoạt động trên cõi Hồng Trần. Thường Chơn Nhơn ít chú ý đến các hoạt động của Phàm Nhơn chỉ khi có một số hoạt động nào đó quan trọng khiến Chơn Nhơn chú ý một lúc để thu nhận một vài kinh nghiệm nào đó.
- Do đó, để cho Chơn Nhơn chú ý đến mình, Phàm Nhơn nên chú ý đến Chơn Nhơn và làm sao cho đời sống ở cõi Hồng Trần hữu ích đối với Chơn Nhơn.
- Chơn Nhơn biết rằng, sự tiến hoá của mình chỉ có một phần được thực hiện thông qua Phàm Nhơn. Vì thế, Chơn Nhơn đôi khi sẽ chú ý và chăm sóc Phàm Nhơn của mình.
- Phàm Nhơn phải chăm sóc, tu dưỡng tâm thức cùng với các thể Xác, Vía, Trí của mình để càng tiến hoá lên cao hơn. Nhờ vậy mà có sự kết nối ngày càng chặc chẽ hơn với Chơn Nhơn. Nếu không, quá trình kết nối và hợp nhất này sẽ kéo dài qua không biết bao nhiêu kiếp mới thực hiện được.
- Khi một Chơn Nhơn quyết định chuyển toàn lực của nó vào Phàm Nhơn, thì có thể đem lại một sự thay đổi rất lớn. Đặc biệt khi Chơn Nhơn đã tiến hoá cao, có đủ sức mạnh và Phàm Nhơn cố gắng để biểu lộ tốt nhất cho của Chơn Nhơn.
17) Thái độ của Phàm Nhơn
- Nếu Phàm Nhơn càng có thái độ đồng hoá với Chơn Nhơn thì càng quan niệm cuộc đời một cách sáng suốt và lành mạnh hơn.
- Phàm Nhơn nên có bổn phận cởi mở đón nhận những ảnh hưởng của Chơn Nhơn, phải vươn mình để tiến đến Chơn Nhơn cũng như tạo ra trong Phàm Nhơn những rung động hữu ích đối với Chơn Nhơn.
- Phàm Nhơn cần tu dưỡng, thực hành các đức hạnh tốt, thanh cao để hữu ích cho Chơn Nhơn.
- Khi Chơn Nhơn tự cố gắng để ảnh hưởng đến Phàm Nhơn thì Phàm Nhơn phải sốt sắng đón tiếp và mau chóng tuân theo sự chủ trị của Chơn Nhơn.
18) Thực hiện sự hợp nhất
- Tâm thức Chơn Nhơn trong khi sinh hoạt trong thể Thượng Trí đã nhận thức có các tâm thức Thiêng Liêng cao hơn bên trên mình, cũng như tâm thức Phàm Nhơn nhận thức về tâm thức Chơn Nhơn vậy.
- Trên cõi giới Niết Bàn (Bồ Đề), tâm thức Thiêng Liêng của các Chơn Nhơn sẽ hợp nhất với nhau, cũng như sự hợp nhất với tâm thức Chân Sư, Quần Tiên Hội và do đó, không còn ý niệm về sự cách biệt giữa Người và Ta nữa tuy rằng ý niệm về cá tính riêng biệt vẫn không mất đi.
- Sự cộng hưởng gần như toàn bộ (hợp nhất hoàn toàn) tâm thức của một người với những người khác ở cõi Bồ Đề khiến cho tâm thức của người đó mở rộng ra, đồng hoá hay bao gồm tâm thức của những người khác. Như vậy tâm thức của mỗi người đều thuộc về hay là một khía cạnh của một tâm thức rộng lớn hơn. Tâm thức rộng lớn này thuộc về một đấng Cao Cả nào đó.
- Khi tâm thức Bồ Đề đủ phát triển và tâm thức Phàm Nhơn đủ tiến hoá để chịu sự chủ trị của tâm thức Bồ Đề, lúc đó, tâm thức Bồ Đề được biểu lộ thông qua bộ não của con người, việc biểu lộ này cũng sẽ ghi lại các dấu ấn bên trong não bộ của người đó. Đến lúc này, tâm thức Bồ Đề sẽ đem lại sự thay đổi cũng như các giá trị mới cho suy nghĩ, hành động của con người trong đời sống hàng ngày.
- Sự hợp nhất và ý thức toàn vẹn về sự hợp nhất tâm thức này chỉ sẽ diễn ra vào giai đoạn sau cùng tức là ở vào cảnh giới cao nhất của cõi giới Bồ Đề.
19) Những cuộc điểm đạo cao hơn
- Trong cuộc Điểm Đạo lần thứ tư, người đệ tử sẽ hoàn toàn bị cô lập một mình và cảm giác tất cả người trên thế gian đều quay lưng lại với mình. Người đạo đồ phải kinh nghiệm một trạng thái Achivi (Ngục A Tỳ) - là trạng thái vô âm ba, không có sự rung động. Ở trạng thái này, người đạo đồ bị cô lập trong không gian và bị cắt đứt mọi liên lạc với sự sống bên ngoài kể cả với Thượng Đế.
- Những sự khổ đau kỳ lạ luôn đi kèm với cuộc Điểm Đạo lần thứ tư này. Mục đích là để thanh toán tất cả những nghiệp quả còn sót lại.
- Khi người đạo đồ vượt qua được cuộc Điểm Đạo lần thứ tư, thì có nghĩa là đã hoàn toàn chiến thắng tất cả những phiền não, đau khổ, thử thách, chướng ngại và cám dỗ để đạt đến sự vinh quang trường cửu muôn đời.
- Khi người đạo đồ vượt qua cuộc Điểm Đạo lần thứ tư, đạt tới trạng thái Niết Bàn, đạt được quả vị A Lan Hán. Điều này có nghĩa là người đạo đồ đã khai mở tâm thức Bồ Đề trong khi vẫn hoạt động trong xác thân. Khi người đạo đồ rời khỏi thể Xác trong giấc ngủ hay trong cơn đại định thì lập tức bước vào cõi giới Niết Bàn.
- Khi người đạo đồ khai mở (thức tỉnh) trên cõi giới cao hơn cõi giới mình ý thức trước đó, sẽ nhận thấy sự sống ở cõi giới mới vô cùng linh động, nhiệm màu hơn rất nhiều.
- Toàn bộ sự sống trong vũ trụ là một biển năng lượng mênh mông vô tận. Trong biển năng lượng liên tục nối tiếp nhau đó, có các điểm năng lượng - là các trung tâm thu nhận và biến động năng lượng sự sống, để cho những năng lượng sau khi được biến đổi có các đặc tính, tính chất phù hợp hơn với các cõi giới bên dưới. Các trung tâm năng lượng này chính là các Đấng Cao Cả. Người đệ tử lúc nãy cũng là một trung tâm năng lượng ở cõi Hạ Giới. Và cũng giống như các Đấng Cao Cả, người đệ tử cũng sẽ tiếp nhận năng lượng, biến đổi hoặc trực tiếp trao truyền như những ân huệ đến những chúng sinh khác.
- Công việc của vị La Hán là phải thực hiện cái công việc vĩ đại là tiến lên những đỉnh cao tột trong cõi giới cao siêu huyền diệu nhất của đời người. Muốn thực hiện điều này, vị La Hán phải loại trừ năm điều cuối cùng, trong tất cả mười điều chướng ngại lớn. Đó là:
+ Ruparaga - ưa thích có sắc tướng đẹp đẽ, hoặc ham muốn sự sống có hình hài, sắc tướng, gồm cả sự sống ở cọi Thiên Giới.
+ Arupraga - ham muốn sống trong cảnh vô sắc tướng.
+ Mano - sự kiêu căng.
+ Uddhachchha - sự vọng động, dễ bị động tâm vì ngoại cảnh.
+ Avidya - sự vô minh.
20) Cuộc Điểm Đạo lần thứ năm - quả vị Chơn Tiên (Asekha)
- Người Đạo Đồ đạt được quả vị Chơn Tiên sẽ trở thành vị Siêu Nhân. Với quả vị này, từ đây người Đạo Đồ không còn phải học hỏi điều gì nữa và đã trải qua tất cả các kinh nghiệm sống của một con người dưới cõi Trần.
- Ý Chí người đạo đồ đạt quả vị Chơn Tiên hỗn hợp với Ý Chí của vũ trụ. Tâm thức của ngài đã bắt đầu thức tỉnh trên cõi Đại Niết Bàn.
- Tâm thức cõi Đại Niết Bàn không thể diễn tả bằng lời. Đó là tâm thức Vô Biên mà chỉ có người đạt chứng ngộ có thể kinh nghiệm nhưng không thể nào diễn giải được.
21) Những cuộc Điểm Đạo cao hơn
- Quả vị Đế Quân (Chohan) là quả vị tiếp theo của Chơn Tiên. Tiếp theo là các quả vị cao hơn như Đại Đế Quân (Dhyan Chohan)...
- Có rất nhiều quả vị cao hơn nữa, kéo dài đến vô tận vô biên. Không gì có thể diễn tả được trạng thái, trải nghiệm, kinh nghiệm khi đạt đến được những quả vị này do đó, chỉ có thể chờ đến khi người đạo đồ tự mình trải qua mà thôi.
22) Bảy con đường Siêu Nhân Loại
- Ngay sau khi con người đã vượt qua cuộc Điểm Đạo thứ năm và đắc quả vị Chơn Tiên (Asekha), thì Thánh Đạo chia làm bảy con Đường lớn để cho vị Chơn Tiên chọn lựa một:
(1) Ngài có thể bước vào trạng thái Toàn Tri và Toàn Lực của cảnh Niết Bàn, với những hoạt động ngoài tầm hiểu biết của chúng ta rất xa, để trở nên đấng Cao Cả chuyển kiếp xuống trần trong một bầu thế giới tương lai (tiến Phạn gọi là Dharmakaya). Với lựa chọn này, vị Chơn Tiên lựa chọn rút vào Chơn Thần, không giữ lại bất kỳ hạt nguyên tử trường tồn ở bất cứ cõi giới nào.
(2) Ngài có thể bước vào một "Thời Kỳ Tâm Linh" ở cõi Niết Bàn; câu này có nhiều ý nghĩa huyền bí (tiếng Phạn gọi là: Sambhogakaya). Với lựa chọn này, vị Chơn Tiên giữ lại hạt nguyên tử trường tồn Niết Bàn và tự biểu lộ mình như một đấng Cao Cả có đủ Ba Ngôi.
(3) Ngài có thể trở nên một vị Thủ Kho Thần Lực mà các vị Thiên Sứ của Thượng Đế dùng để làm công việc của các Ngài (tiếng Phạn gọi là: Nirmanakaya). Với lựa chọn này, vị Chơn Tiên giữ lại thể Thượng Trí cùng với các hạt nguyên tử trường tồn khác để có thể tạo ra các thể Trí, Vía, Xác bất kỳ khi nào cần, với mục đích là chuyển thần lực xuống bầu thế giới cũ mà vị Chơn Tiên đó đã tiến hoá bất cứ lúc nào.
(4) Ngài có thể ở lại thế gian để giúp đỡ Nhân Loại, với tư cách là một nhân viên của các Cấp Đẳng Thiên Đình, gọi chung là Quần Tiên Hội.
(5) Ngài có thể chuyển qua một dãy Hành Tinh kế tiếp, để trợ giúp cho công việc tạo tác mọi hình thể sinh vật trên đó.
(6) Ngài có thể bước vào con đường Tiến Hóa của các hàng Thiên Thần.
(7) Ngài có thể gia nhập vào bộ Tham Mưu của Đức Thượng Đế, với tư cách một vị Thiên Sứ, để được Ngài sử dụng ở bất cứ nơi nào trong Thái Dương Hệ.
23) Các cấp đẳng Thiên Đình
(1) Công việc của các Chân Sư ở Thiên Đình
- Các Ngài giúp đỡ bằng đủ mọi cách sự tiến hóa của nhân loại. Từ trên cõi giới cao siêu nhất, các Ngài ban rải ánh sáng và sinh lực xuống khắp thế gian để cho muôn loài được hưởng thụ.
- Kế đó là công việc vĩ đại về mặt trí tuệ. Từ cõi Thượng Thiên, các đấng Chân Sư phóng ra những hình tư tưởng có thần lực rất mạnh để giúp nguồn cảm hứng cho những bậc thiên tài vĩ nhân trong thiên hạ, những người này sẽ bắt được luồng tư tưởng đó và đưa ra cho thế gian được hưởng thụ những kết quả tốt đẹp. Cũng trên địa hạt này, các Ngài gởi chỉ thị cho những vị đệ tử biết những công việc nào họ phải làm.
- Trên cõi Hạ Thiên, các Ngài phóng ra những hình tư tưởng có ảnh hưởng đến Hạ Trí con người, dìu dắt tư tưởng con người theo những đường hoạt động hữu ích cho thế gian. Các Ngài cũng dạy dỗ những linh hồn đang sống trên cõi Thượng Giới.
- Trên cõi Trung Giới, sự hoạt động của các Ngài gồm có việc giúp đỡ những linh hồn vừa mới từ giã cõi Trần, hướng dẫn và trông nom việc huấn luyện những đệ tử trẻ tuổi, và trợ giúp trong vô số những trường hợp cần được giúp đỡ.
- Ở cõi Phàm Trần, các Ngài dò xét những trào lưu và thời cuộc thế giới; sửa đổi và diệt trừ những khuynh hướng bất hảo trong phạm vi mà luật thiên nhiên cho phép; giữ mực quân bình giữa những sức mạnh đối lập thuận và nghịch với sự tiến hóa, tăng cường điều thiện, giảm bớt điều ác. Các Ngài cũng hợp tác với những vị Thiên Thần của các quốc gia, dìu dắt những sức mạnh tâm linh của nhân loại trong khi các Thiên Thần dìu dắt sự tiến hóa về hình thể sắc tướng của muôn loài".
(2) Khu vực hoạt động của các Chân Sư
- Theo sự phân chia hiện thời, một vị Chân Sư cai quản toàn cõi Âu Châu, một vị khác cai quản xứ Ấn Độ... và như thế toàn thể địa cầu đều được phân ra từng khu vực rộng lớn. Những khu vực đó không có theo những đường ranh giới chính trị hay địa lý.
- Trong vùng địa phận của mỗi vị Chân Sư, Ngài chăm nom săn sóc tất cả những cấp đẳng và hình thể tiến hóa, không những của nhân loại mà thôi, mà cũng gồm cõi giới Thiên Thần, những loại Tinh Linh, cầm thú, thảo mộc và kim thạch, những loại tinh hoa chất, cùng những loài khác nữa mà từ trước đến nay chưa từng nghe nói đến bao giờ. Như thế, công việc của các Ngài bề bộn là dường nào.
- Ngoài ra sự chăm nom của các đấng Chân Sư, mỗi giống dân hay mỗi quốc gia còn được sự giúp đỡ của mỗi vị Thiên Thần, vị này cũng bảo trợ và dìu dắt sự tiến hóa của mỗi quốc gia.
(3) Sự phân phối thần lực
- Chân Sư ban rải thần lực riêng của ngài hoặc rút từ kho thần lực của đấng Nirmanakaya. Việc nhận được ân huệ như thế nào phụ thuộc chủ yếu vào nghiệp của mỗi chúng sinh.
- Quần Tiên Hội hợp nhất với tất cả nhân loại trên các cõi cao và nhờ đó mà một phần lớn của kho thần lực được phân phối cho nhân loại. Từ cõi Thượng Thiên, các Chân Sư ảnh hưởng đến mọi linh hồn không bỏ sót một ai và do đó, các ngài giúp ích rất nhiều cho sự tiến hoá tâm thức của mỗi người.
- Ảnh hưởng của thần lực đến mỗi người đều theo một cách trọn vẹn, đủ đầy. Không có người nào khác người nào cả.
(4) Cách sử dụng lòng sùng tín
- Các đấng Cao Cả dùng những cuộc hội họp của nhiều người cùng chịu ảnh hưởng của lòng sùng tín, những buổi nghi lễ của tôn giáo như một đường vận hà để ban rải một nguồn thần lực lớn xuống cho thế gian và do đó khích động sự phát triển tâm linh một số đông người.
- Những khối tư tưởng được hình thành bởi số đông những người sùng đạo sẽ tạo ra một lượng lớn năng lượng sự sống hay sinh lực có thể được dùng vào việc lành.
- Những nơi có nhiều đền đài, miếu, xá lợi, các bậc Chân Sư, Đạo Sư, các trung tâm lễ nghi tôn giáo, những nơi các tín đồ hành hương đến... là những nơi tập trung thần lực, sinh lực và cũng là con đường vận hà thần lực của các Chân Sư, các đấng Cao Cả.
- Lòng sùng tín chân thành là rất quan trọng, đôi khi quan trọng hơn nhiều so với điều (sinh mệnh, sự vật, sự việc) mà lòng sùng tín của nhân loại đặt vào.
(5) Công việc của các Đệ Tử
- Tham gia vào nhiều ngành nghề đang có trên thế gian để làm việc và phụng sự.
- Trở thành một trung tâm, một điểm trên con đường vận hà năng lượng của các Chân Sư.
- Phụng sự một cách thực tế trên cõi Trung Giới thông qua việc thành lập nhóm Cứu Trợ Vô Hình. Thường là giúp đỡ những người mới chết đang hoang mang, bỡ ngỡ, lạc loài và có khi đau khổ. Thường những vong linh tốt hoặc người thân chưa thoát khỏi cõi Trung Giới sẽ giúp đỡ những hiểu biết và kinh nghiệm của họ cho người mới chết khi bước vào cõi Trung Giới.
II. Phần hai
1) Các giống dân
- Quần Tiên Hội chuẩn bị sự tiến hoá của các giống dân và quốc gia mới. Trong đó những đức tánh của một nhân loại tương lai sẽ được phát triển một cách tuần tự và điều hoà.
- Sự thành lập các giống dân với các đặc tính về thể chất, tình cảm, trí tuệ cũng có trật tự rõ ràng.
2) Đức chưởng giáo lâm phàm
- Việc lâm phàm của Đức Chưởng Giáo lâu lắm mới xảy ra một lần và thuộc về Cung 2 - coi về hoạt động Tôn Giáo và Giáo Dục.
- Điểm chân lý chính mà Đức chưởng giáo nhấn mạnh là: những đau khổ của thế gian đều do bởi sự thiếu tình thương và tình huynh đệ giữa loài người. Nếu con người biết thương yêu nhau và đối xử với nhau tình huynh đệ thân hữu, thì mọi điều ác đều tiêu trừ và một hoàng kim thời đại sẽ đến với chúng ta.
3) Chủng chi thứ sáu
- Đức Bàn Cổ dùng trí tuệ, ý chí để nhồi nắn, sửa đổi hình thể và sắc tướng của những trẻ sơ sinh trong thời đại mới. Đồng thời, những nhân viên trẻ tuổi của Quần Tiên Hội hiện đang hoạt động ở thế gian cũng được chỉ thị của các Ngài để giúp đỡ cho những thiếu nhi ấy sự giáo dục và huấn luyện thích nghi với Giống Dân mới.
4) Giống dân thứ sáu
- Giống dân này sẽ xuất hiện bên xứ California (Hoa Kỳ) vào khoảng độ 700 năm sau. Khi đó, một thiểu số người sẽ thiết lập tại xứ ấy, dưới sự điều khiển của Đức Bàn Cổ. Giống Dân thứ 6, tức là Đức Chân Sư Morya hiện nay, và cùng hợp tác với Ngài sẽ có Đức Chân Sư Kuthumi, tức là vị Bồ Tát của Giống Dân thứ 6.
7) Những vị Đế Quân và các Cung
- Vạn vật trong vũ trụ đều biểu lộ thông qua bảy cung. Trong Quần Tiên Hội, bảy cung xuất hiện như sau:
+ Cung 1: Cung Uy Quyền, do Đức Ngọc Đế cai quản. Do Chân Sư Morya đại diện ở cấp đẳng Đế Quân. Đặc tính của Ngài là ý chí và uy quyền.
+ Cung 2: Cung Tôn Giáo, do Đức Phật cai quản. Do Chân Sư Kuthumi đại diện ở cấp đẳng Đế Quân. Đặc tính của Ngài là minh triết và bác ái.
+ Cung 3,4,5,6,7: đều thuộc quyền cai quản của Đức Văn Minh Đại Đế. Trong đó:
- Cung 3: do Chân Sư Venitien đại diện ở cấp độ Đế Quân. Đặc tính của Ngài là uyển chuyển hoà hợp và khôn khéo. Những người thuộc cung này thường khéo léo, dễ dàng thích ứng với mọi người và mọi hoàn cảnh. Cung này cũng có mối liên hệ với Khoa Chiêm Tinh.
- Cung 4: do Chân Sư Serapis đại diện ở cấp độ Đế Quân. Đặc tính của Ngài là mỹ lệ và điều hoà. Những người thuộc cung này phần lớn là nghệ sĩ, theo đuổi nghệ thuật hay mỹ thuật.
- Cung 5: do Chân Sư Hilarion đại diện ở cấp độ Đế Quân. Đặc tính của Ngài là sự đúng đắn, mực thước và đúng theo khoa học. Những người thuộc cung này phần lớn là các nhà khoa học, bác học, triết học.
- Cung 6: do Chân Sư Jesus đại diện ở cấp độ Đế Quân. Đặc tính của Ngài là sự sùng tín. Những người thuộc cung này phần lớn là các vị thánh và tu sĩ, thiên về con đường sùng tín của mọi tôn giáo.
- Cung 7: do Chân Sư Saint Germain đại diện ở cấp độ Đế Quân. Đặc tính của Ngài là trật tự, nghi thức và lễ bái.
- Tuy nhiên, trong một Dãy Hành Tinh (cũng có thể trong cả một Thái Dương Hệ), chỉ có một trong những Đại Vũ Trụ Cung là đang hoạt động.
- Toàn thể Thái Dương Hệ của chúng ta là sự Biểu Lộ của Đức Thái Dương Thượng Đế, và mỗi một vi tử nhỏ trong đó đều là một phần trong các thể của Ngài. Tất cả vật chất Hồng Trần trong Thái Dương hệ gồm lại thành Thể Xác của Ngài; Toàn thể chất Trung Giới trong Thái Dương Hệ gồm lại thành Thể Vía của Ngài; toàn thể chất Thanh Khí ở cõi Thượng Giới gồm lại thành Thể Trí của Ngài v.v... Hoàn toàn ở trên và ở ngoài vòng Thái Dương Hệ, Ngài còn có một sự sinh hoạt rộng lớn và bao la hơn nhiều, nhưng điều này không thể ảnh hưởng một chút nào đến sự thật của điều mà tôi vừa trình bày ở trên.
- Đức Thái Dương Thượng Đế bao gồm luôn cả Bảy Vị Đại Tinh Quân, những vị này đều là những trung tâm Thần Lực của Ngài, những đường vận hà xuyên qua đó Thần Lực của Ngài được ban rải ra. Đồng thới có một ý nghĩa theo đó người ta có thể hiểu rằng những vị ấy đều gồm thành phần của Ngài. Những thứ vật chất mà chúng tôi vừa miêu tả như là gồm thành phần các Thể của Ngài, đồng thời cũng gồm cả trong Thể của những vị Đại Tinh Quân ấy, vì không có một điểm nhỏ vật chất nào trong Thái Dương Hệ mà không gồm thành phần các Thể của một trong các vị Đại Tinh Quân. Điều này cũng áp dụng cho tất cả Cõi giới khác nhau trong Thái Dương Hệ, nhưng chúng tôi xin tạm lấy ví dụ Cõi Trung Giới để giải thích, vì vật chất của Cõi này khá uyển chuyển để ứng đáp nhu cầu của cuộc thí nghiệm sưu tầm của chúng tôi và đồng thời nó cũng gần nhứt với Cõi Hồng Trần để không phải là hoàn toàn ngoài phạm vi hiểu biết của chúng ta.
- Một vi tử vật chất Trung Giới trong Thái Dương hệ là một phần Thể Vía của một trong Bảy vị Đại Tinh Quân. Chúng ta nên nhớ rằng nó cũng là chất Trung Giới do đó Thể Vía của chúng ta được cấu tạo nên. Chúng ta không có phần vật chất nào là hoàn toàn của riêng chúng ta. Trong mỗi Thể Vía, đều có những vi tử vật chất thuộc về một trong Bảy vị Đại Tinh Quân, nhưng cái tỷ lệ vật chất đó khác biệt nhau đến vô cùng tận. Những Thể mà mỗi Chân Thần khoác lấy kể từ lúc khởi thủy, khi nó xuất hiện xuyên qua một vị Đại Tinh Quân nhất định, sẽ tiếp tục gồm có nhiều vi tử của đơn vị ấy hơn là của vị nào khác trải qua một thời kỳ tiến hóa của nó. Bởi đó người ta có thể phân biệt được một người thuộc về một Cung nào trong Bảy Cung, tiêu biểu cho Bảy loại Quyền Năng Cao Cả.
- Bảy vị Đại Tinh Quân, chính là những trung tâm thần lực của Thượng Đế vậy. Đó là những vị cầm đầu các Cung, những vị Chưởng Cung của toàn thể Thái Dương Hệ, chứ không phải của quả Địa Cầu không thôi. Từ lúc khởi thủy mỗi người trong nhân loại đã từng xuất hiện xuyên qua một vị trong Bảy vị Đại Tinh Quân đó, có người thuộc về vị này có người thuộc về vị khác.
- Tất cả nhân loại luôn luôn đứng trước sự hiện diện của Đức Thái Dương Thượng Đế, vì trong Thái Dương Hệ, không có nơi nào mà không có Ngài, và tất cả mọi sinh vật đều là một phần của Ngài. Nhưng theo một ý nghĩa đặc biệt, Bảy vị Đại Tinh Quân là những phần tử của Ngài, là sự biểu lộ của Ngài, hầu như là những đức tính của Ngài - tức là những trung tâm xuyên qua đó Thần Lực của Ngài được ban rải ra. Mọi sự vật sở dĩ có đều do kết quả của những sức mạnh tự nhiên hành động theo những định luật của Vũ Trụ, nhưng đằng sau mỗi sức mạnh luôn luôn có một đấng Thiêng Liêng cai quản dìu dắt, và chỉ huy - chính là nơi phát nguồn của Thần Lực hay nguồn gốc của sức mạnh tự nhiên.
- Danh tự Do Thái của bảy vị Đại Tinh Quân:
+ Thiên Thần Michael, danh từ này có nghĩa là "Sức mạnh của Thượng Đế", và có liên hệ đến bầu Hỏa Tinh.
+ Thiên Thần Gabriel có nghĩa là "Toàn Trí của Thượng Đế" và liên hệ đến bầu Thủy Tinh.
+ Thiên Thần Raphael có nghĩa là "Quyền năng của Thượng Đế" và liên hệ đến ngôi Mặt Trời, là bầu Tinh Tú ban bố sức khỏe và sinh lực cho muôn loài ở thế gian.
+ Thiên Thần Uriel có nghĩa là "Ánh Sáng của Thượng Đế".
+ Thiên Thần Zadkiel nghĩ là "Hảo ý của Thượng Đế" và liên hệ đến Mộc Tinh.
+ Thiên Thần Chamuel
+ Thiên thần Jophiel.
8) Bảy hạng chúng sinh trong muôn loài
- Khi cái vật chất sơ khai hay cái tinh thần nguyên thủy bắt đầu xuất hiện từ chỗ Vô Cực để tiến hóa và trong tương lai sẽ trở nên con người như chúng ta, nó xuất phát xuyên qua Bảy con đường vận hà chính là bảy vị Huyền Thiên Thượng Đế hay bảy trung tâm Thần Lực của đấng Thái Dương Thượng Đế.
- Xuyên qua tất cả các loài, từ loài tinh hoa chất, khoáng chất, thảo mộc, cầm thú, thì các Cung đều luôn luôn phân biệt khác nhau rõ rệt cũng như trong loài người, tuy rằng trong những loài thấp kém hơn, ảnh hưởng của mỗi Cung tự nhiên hành động một cách khác nhau. Vì những loài này chưa có một cá tính hay một linh hồn riêng biệt, nên toàn thể một giống thú chẳng hạn phải là thuộc về một Cung.
- Như thế, những loài thú vật khác giống có thể được sắp hạng theo Bảy loại tùy theo chúng thuộc về Cung nào. Vì một con thú chỉ có thể thoát kiếp thú thành người nhờ sự tiếp xúc với người, nên đứng đầu mỗi Cung, có một loại thú nhà làm tiêu biểu, và mọi sự thoát kiếp thành người trên một Cung đặc biệt nào đều phải đi xuyên qua loại thú nhà nói trên.
- Đối với loài Người, có đủ bảy hạng rõ rệt, và mỗi người trong chúng ta đều thuộc về một Cung nhất định. Người ta vẫn luôn luôn nhìn nhận rằng trong loài người, thường có sự khác biệt căn bản như thế. Tuy nhiên, thường rất khó để nhận ra Cung của một người nào đó bởi vì đủ loại nghiệp quả mà người đó đã tạo ra trong cõi giới Hồng Trần đã chế ngự, chi phối các đặc tính của Cung mà người đó thuộc về. Trái lại người đi trên đường Đạo biểu lộ rõ rệt một ý chí nhất định, hay một quyền năng đặc biệt, nó có cái đặc tính riêng thuộc về Cung của mình và do đó đưa người đạo đồ vào con đường hoạt động hay công việc phụng sự hay đến gần một vị Chân Sư thuộc về Cung đó.
9) Những phương pháp hành động của mỗi Cung
- Người thuộc Cung 1 sẽ đạt mục đích bằng sức mạnh của Ý Chí mà không dùng đến những phương tiện khác.
- Người thuộc Cung 2 cũng dùng sức mạnh Ý Chí, nhưng với một sự hiểu biết đầy đủ về những phương pháp áp dụng khác nhau, và điều khiển ý chí vào một phương pháp thích nghi nhất.
- Người thuộc về Cung 3 sẽ dùng những sức mạnh của cõi Trí tuệ, và ghi nhận rất kỹ lưỡng ngày giờ nào mà mọi ảnh hưởng sẽ được thuận lợi nhứt cho cuộc thành công của mình.
- Người thuộc Cung 4 sẽ sử dụng những sức mạnh tinh vi của chất dĩ thái Hồng Trần.
- Người thuộc Cung 5 có thể chuyển vận những luồng từ điển thuộc cõi Trung Giới.
- Người thuộc Cung 6 sẽ đạt tới kết quả mong muốn bằng sức mạnh của đức tin nơi một vị Thần Minh và tin nơi hiệu lực của sự cầu nguyện.
- Còn người thuộc Cung 7 sẽ dùng những nghi thức lễ bái, cúng tế, và kêu gọi sự giúp đỡ của các hạng vong linh hay sự hợp tác của Thiên Thần.
10) Những sự biến đổi từng chu kỳ
- Trong Bảy vị Đại Tinh Quân có những cuộc biến đổi diễn ra từng thời kỳ, giống như sự tuần hoàn của hơi thở trong bộ máy hô hấp hay sự vận động của quả tim. Vì lẽ những thể Vía của chúng sinh được cấu tạo cùng một chất với thể Vía của các Ngài, cho nên khi một vị Đại Tinh Quân thay đổi trạng thái của thể Vía, thì tự nhiên là điều đó sẽ ảnh hưởng đến thể Vía của mỗi người trên thế gian. Ảnh hưởng này sẽ đặc biệt và rõ rệt hơn đối với những người nào mà thể Vía có chứa đựng một tỷ lệ vật chất gần giống như trong thể Vía của Ngài. Đây chỉ là một ví dụ liên quan đến cõi Trung Giới. Sự biến đổi này cũng sẽ giống nhau cho tất cả các cõi giới khác. Bởi vậy, sự thay đổi của tâm thức / thể của các đấng Đại Tinh Quân sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức / thể của chúng sinh.
- Sự biến đổi trên sẽ diễn ra trong từng loại chu kỳ, như chu kỳ một Giống Dân, chu kỳ của một Bầu, chu kỳ của một Dãy Hành Tinh, chu kỳ của một Hệ Tiến Hoá, chu kỳ của một Thái Dương Hệ, chu kỳ của một Vũ Trụ ...
- Đối với chu kỳ một Giống Dân, thì trong chu kỳ đó, ảnh hưởng của bảy Cung thay phiên nhau biểu lộ rõ rệt và trong thời kỳ của mỗi cung, lại có bảy tiểu hạn ảnh hưởng theo một định luật huyền bí.
11) Ba Ngôi và những hình Tam Giác
- Ba Ngôi của Thượng Đế: vị Chúa Tể của Thái Dương Hệ chúng ta - tức là đấng Thiêng Liêng mà người ta gọi là Thượng Đế - là một Đấng Cao cả gồm có ba phương diện thần bí gọi là Ba Ngôi.
- Cũng như Thượng Đế có ba Ngôi. Quần Tiên Hội cai quản Địa Cầu có ba ngành hoạt động chính đặt dưới sự cai quản của ba Đấng Cao Cả - là sự phản ảnh của Ba Ngôi mà còn là sự biểu lộ thực sự của Ba Ngôi đó vậy - đó là Đức Ngọc Đế, Đức Phật và Đức Văn Minh Đại Đế.
+ Đức Ngọc Đế hợp nhất với Ngôi thứ Nhất trên cõi Tối Đại Niết Bàn là cõi cao nhất trong bảy cõi, và chủ trị Ý Chí Thiêng Liêng trên quả Địa Cầu.
+ Đức Phật hợp nhất với Ngôi thứ Hai, vốn ngự trị ở cõi Đại Niết Bàn, và giúp nguồn Minh Triết Thiêng Liêng cho nhân loại.
+ Đức Văn Minh Đại Đế hợp nhất với Ngôi thứ Ba, ngự trị trên cõi Niết Bàn và với tư cách đại diện Chúa Thánh Thần, Ngài cai quản mọi sự Hoạt Động Thiêng Liêng.
- Trọn hết thời kỳ một Giống Dân, Đức Bàn Cổ trông nom từng chi tiết cuộc tiến hóa tổng thể. Đức Bồ Tát, với tư cách là Đức Chưởng Giáo, trông coi về phần Giáo Dục và Tôn Giáo, giúp đỡ những người trong Giống Dân đó phát triển phần tâm linh đến một mực tùy theo trình độ của họ. Đức Văn Minh dìu dắt phần trí tuệ thông minh của họ để cho mọi hình thức văn minh và khai hóa có thể phát triển tùy theo từng chu kỳ, ba đấng Cao Cả nói trên cũng ví như bộ óc, quả tim và bàn tay, tất cả đều hoạt động để dìu dắt nòi giống nhân loại tiến hóa cho phù hợp với Thiên Cơ.
- Đức Mẹ Thế Gian - Thánh Mẫu của Vũ Trụ, Nữ Vương của các đấng Thiên Thần, Ngôi Sao của Biển Cả: là một phương diện Mẫu Nghi của Thượng Đế. Có một ngành hoạt động thuộc về Đức Mẹ trong Thiên Cơ cũng như ngành hoạt động của Đức Bàn Cổ.
+ Cũng như Đức Bàn Cổ đứng đầu một cơ quan coi sóc sự tiến hóa về phần hình thể của những Chủng Chi, cũng như Đức Bồ Tát cai quản một Cơ quan khác trông nom về mặt tôn giáo và Giáo Dục, thì đấng Cao Cả trông coi về công việc của Đức Mẹ tức là Đức Mẹ Thế Gian.
+ Cũng như đức Vaivasvata hiện nay đảm nhiệm công việc của Đức Bàn Cổ, và Đức Di-Lặc Maitreya lãnh phần trách nhiệm của Đức Chưởng Giáo, thì đấng Đại Thiên Thần trước kia đã từng là mẹ của Đức Jesus, hiện nay đảm nhiệm công việc Đức Mẹ Thế Gian.
- Công việc của cơ quan này là đặc biệt trông nom săn sóc những phụ nữ làm mẹ trên thế gian. Về phương diện huyền bí, sứ mạng cao cả của người phụ nữ không phải là trở nên một nhà lãnh tụ ở ngoài đời, hoặc chiếm những cấp bằng lớn về khoa cử và sống riêng biệt trong tháp ngà, nhưng là để tạo nên những thể xác cho những linh hồn sẽ đầu thai xuống Trần.
+ Có một cơ quan đặc biệt của Quần Tiên Hội trên địa cầu, mà trách nhiệm của đấng Cao Cả trông coi cơ quan ấy là trợ giúp cho mỗi người đàn bà khi sinh sản đau đớn, và đưa đến cho họ sự giúp đỡ và sức mạnh tùy theo nghiệp quả riêng của họ.
+ Đức Mẹ luôn luôn muốn rằng mỗi người phụ nữ lâm bồn nên chọn lấy một nơi sanh trong lành và tốt đẹp. Ngài muốn rằng họ nên nuôi lấy tình thương sâu đậm và chân thật, cùng những tư tưởng thánh thiện và cao quý, để cho khi sanh sản họ rút được những ảnh hưởng và ân huệ thanh cao xuống cho đứa hài nhi, và như thế đứa trẻ được sinh ra trong một hoàn cảnh thuận lợi cho việc bắt đầu một cuộc đời mới. Nó phải được sinh ra giữa một bầu không khí đầy từ điển trong sạch, tinh khiết và tốt đẹp nhất, và người mẹ cần phải giữ gìn cho thể xác được sạch sẽ, đúng phép vệ sinh trong từng những chi tiết nhỏ nhặt. Có được như vậy, đứa trẻ mới sinh ra với một xác thân tốt đẹp và lành mạnh, để dùng làm cái khí cụ cho một linh hồn tiến hóa.
+ Mỗi phụ nữ nên nhận thức lấy những cơ hội vô cùng tốt đẹp mà một kiếp đầu thai làm đàn bà đem đến cho họ. Mỗi phụ nữ cần được chỉ dạy về những điều kiện tuyệt đối cần thiết mà họ phải noi theo trước khi, trong khi và sau khi mang thai. Không những Thể Xác đứa hài nhi phải được giữ gìn và chăm nom săn sóc một cách hoàn toàn kỹ lưỡng, mà nó còn phải được bao phủ trong một bầu không khí trong lành đượm nhuần tình thương yêu, hạnh phúc và thánh thiện. Bằng cách đó, công việc của Đức Mẹ thế gian sẽ được dễ dàng hơn gấp bội và tương lai của giống nòi cũng sẽ được bảo đảm.
+ Đức Mẹ chính là đại diện, là kiểu mẫu và tinh hoa của tính Bác Ái, lòng Sùng Tín và sự Tinh Khiết. Ngài cũng là hiện thân của sự Minh Triết thiêng liêng, nhưng trên hết tất cả mọi sự, thì Đức Mẹ là đấng an ủi, cứu khổ, phò nguy và giúp đỡ cho tất cả những người bị lâm cơn đau khổ, buồn rầu, đói lạnh, bệnh tật, và bị mọi nỗi khổ đau của nghịch cảnh.
12) Đổi Cung
- Mỗi nhân loại đều có thể dựa vào Ý Chí của mình để đổi Cung. Phương pháp đổi Cung cũng khá giản dị về mặt lý thuyết nhưng thường rất khó thực hành. Nếu một người thuộc Cung 6 hay Cung Sùng Tín, muốn đổi qua Cung 2, tức Cung Minh Triết, trước hết phải cố gắng đặt mình dưới ảnh hưởng của Tiểu Chi thứ hai của Cung 6. Kế đó, sẽ luôn luôn cố gắng gia tăng ảnh hưởng của Tiểu Chi đó trên đời sống hằng ngày, cho đến khi nó trở nên mạnh mẽ và trội nhất. Như thế thay vì thuộc Tiểu Chi thứ hai của Cung 6, người đó sẽ đổi qua Tiểu Chi thứ 6 của Cung 2.
- Việc đổi Cung là hiếm khi xảy ra và thường người ta đổi Cung mình để thuyên chuyển qua Cung 1 và Cung 2, và ít có người trên hai Cung này ở vào những trình độ tiến hóa thấp kém.
13) Minh Triết trong ba Ngôi
- Đức Phật của thời đại này là Phật Thích Ca, hiệu là Cồ Đàm (Gautama), Ngài chuyển kiếp lần cuối cùng tại xứ Ấn Độ cách đây độ 2.500 năm. Kiếp đó cũng là kiếp cuối cùng chấm dứt một loạt nhiều kiếp ở quả vị Bồ Tát, sau đó Ngài nối nghiệp cho vị Phật quá khứ là Phật Kasyapa ở chức vụ Chưởng Quản Cung thứ Hai trong Quần Tiên Hội trong Địa Cầu.
- Trong chu kỳ của một bầu thế giới, có bảy vị Phật nối tiếp nhau xuất hiện, mỗi vị Phật dìu dắt cho một Giống Dân, và thay nhau đảm nhiệm công việc đặc biệt của Cung Hai cho toàn thế giới. Trong chức vụ đó, Ngài coi sóc lấy phần việc các cõi trên, và giao phó cho vị Phụ Tá và Đại Diện của Ngài là Đức Bồ Tát, trách nhiệm của vị Chưởng Giáo ở các cõi Hạ Giới.
- Đức Phật Thích Ca là Đức Phật đầu tiên do nhân loại trong Dãy Hành Tinh Địa Cầu đạt được quả vị đó. Từ trước đến thời điểm này, Dãy Hành Tinh Địa Cầu đều được các Đức Bàn Cổ, Đức Chưởng Giáo từ các Dãy Hành Tinh khác trông coi, chăm sóc.
- Đức Phật Thích Ca mỗi năm sẽ trở lại thế gian một lần vào ngày lễ Phật Đản để ban rải ân huệ cho chúng sinh. Với quyền năng và địa vị của Ngài, một vị Phật có thể bước vào những cõi giới siêu linh hoàn toàn ngoài vòng hiểu biết của chúng ta, Ngài có thể rút thần lực và chuyển hoá ở những cõi giới đó để ban rải xuống cõi Hồng Trần. Nếu không có sự trung gian của Đức Phật thì những nguồn thần lực đó sẽ vô ích cho chúng ta ở cõi Trần, vì nó có những rung động vô cùng tế nhị, mạnh mẽ và mau chóng đến nỗi nó có thể đi xuyên qua người chúng mà ta không hề hay biết chi cả. Thần lực do Đức Phật ban rải cho thế gian được thấm nhuần khắp mọi nơi, nó giúp sức và tăng cường cho mọi việc làm hữu ích, và đem sự bình an cho những tâm hồn lương thiện.
